...

Chuyện tiền bốn phương

  • Trung Quốc gom thêm gần 100 tấn vàng đưa vào kho dự trữ

    Trung Quốc đã bổ sung gần 100 tấn vàng vào kho dự trữ kể từ khi quốc gia này tiếp tục mua vào từ tháng 12 năm ngoái.
  • Phát hành 50 đồng tiền vàng 20 Việt, lấy nguyên mẫu từ đồng tiền phát hành năm 1948

    Đồng tiền vàng bản vị 20 Việt, lấy nguyên mẫu từ tiền vàng phát hành năm 1948 được ra mắt sáng 9/9.
  • Dubai dẫn đầu toàn cầu về khoản "rút ví" du khách

    Thành phố Dubai của Các tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE) đã dẫn đầu thế giới về mức chi tiêu du lịch trong năm 2018.
  • Cạnh tranh trong lĩnh vực tiêu dùng nhanh: Tập đoàn lớn “chơi” dữ liệu lớn

    InfoMoneyCác tập đoàn hàng tiêu dùng đang nhờ đến Big Data để vực dậy tăng trưởng.

    Những người thích nấu nướng, thích món ăn ngon hay ăn vì sức khỏe có lẽ đã mê trà dưỡng sinh Kombucha, hay dầu CBD trong nhiều năm qua khi những sản phẩm này trở thành chủ đạo. Nhưng thị hiếu tiêu dùng sẽ sớm chuyển sang các loại sữa từ hạt, thực phẩm bổ sung Gaba hay dưỡng da mặt bằng sản phẩm chống oxy hóa Bakuchiol.

    Những dự báo này đến từ Black Swan, một startup có trụ sở tại London, chuyên thu nhập dữ liệu từ mạng xã hội, các diễn đàn trực tuyến, các website review sản phẩm cũng như các nguồn khác, rồi sau đó phân tích để đoán xem người tiêu dùng đang muốn gì. Phần mềm trí tuệ nhân tạo (A.I) của Black Swan giúp dự báo các xu hướng ban đầu nào chú định sẽ được đông đảo người tiêu dùng hưởng ứng. Black Swan hiện có 16 khách hàng là những tập đoàn hàng tiêu dùng lớn chỉ riêng trong 6 tháng qua, trong đó có PepsiCo, Danone và McDonald’s, dự kiến giúp startup này tăng gấp đôi doanh thu trong năm nay lên tới 30 triệu bảng Anh.

    Black Swan tăng trưởng nhanh vì Công ty đang cung cấp cái mà các tập đoàn hàng tiêu dùng tha thiết mong cầu: sự am hiểu về những gì mà người tiêu dùng hiện đại, hay thay đổi sẽ mua trong tương lai cũng như về cách chọn ra những sản phẩm phù hợp nhất để cung cấp cho họ. Nhu cầu này càng cấp bách trong bối cảnh tăng trưởng doanh thu của các tập đoàn hàng tiêu dùng đã chậm lại. “Nó giống như một quả cầu tiên tri mà tất cả chúng ta đều muốn có được suốt 20 năm qua”, Elaine Rodrigo, đứng đầu bộ phận chiến lược và nghiên cứu tiêu dùng của Danone, nói.

    Thế hệ mới các startup nghiên cứu thị trường

    Black Swan là một trong số những công ty công nghệ đang phá bĩnh ngành nghiên cứu thị trường. Có thể thấy, dù đã trải qua nhiều năm cải tiến sản phẩm, nhưng ngành hàng tiêu dùng đang trở nên chậm chạp, quan liêu và thiếu sáng tạo. Những nhà sản xuất thực phẩm, thức uống nổi tiếng và các thương hiệu hộ gia đình đã chứng kiến tốc độ tăng trưởng chậm lại kể từ năm 2012. Điều đó cho thấy các công ty lớn đã không còn dễ dàng nắm bắt thị hiếu tiêu dùng như trước. Tồi tệ hơn, họ thường bị “đột kích” bởi các xu hướng mới như xu hướng ăn chay hoặc các chế độ ăn giàu protein và sau đó mới vội vã tìm cách thích ứng với thị hiếu tiêu dùng thay đổi, trong khi các nhãn hàng mới đã bắt đầu giành lấy thị phần. Các chuỗi cung ứng phức tạp, các quy trình nội bộ rắc rối và việc luôn bám vào chất lượng và các tiêu chuẩn sức khỏe của các công ty hàng tiêu dùng lớn đồng nghĩa với việc tung ra các sản phẩm mới thường mất 1 năm hoặc lâu hơn, trong khi một nhãn hàng mới thường chỉ mất vài tháng.

    Giới quan sát dẫn chứng về sự trỗi dậy của HaloTop, một loại kem có calorie thấp, không đường của Mỹ, đã gây bất ngờ cho Unilever và Nestlé hay loại thực phẩm sấy đã trở nên được ưa chuộng, đánh bại các loại chiên giòn truyền thống. Giờ đây một số chuyên gia trong ngành đang đặt cược rằng việc hiện đại hóa ngành nghiên cứu thị trường có thể vực dậy tăng trưởng. Các công ty hàng tiêu dùng hàng đầu muốn làm mới các công cụ nghiên cứu thị trường đã cũ kỹ hàng thập niên, như các bảng khảo sát tiêu dùng, các nhóm đối tượng mục tiêu và dữ liệu doanh số bán lẻ.

    Trong khi đó, các startup như Black Swan đang sử dụng các phương pháp mới hơn như các cuộc khảo sát ý kiến trực tuyến được thực hiện chỉ trong vài ngày thay vì thường mất 4-6 tuần. Hay Zappi đã thu hút hàng chục công ty tiêu dùng đến với nền tảng tự phục vụ của mình. Zappi cho phép các nhà tiếp thị tự lập nghiên cứu của riêng họ và nhanh chóng kiểm tra các ý tưởng với các nhóm người khảo sát được chọn lựa theo độ tuổi, thu nhập hoặc địa điểm. Các startup khác như Streetbees cho phép doanh nghiệp phỏng vấn video trực tiếp ngay lập tức thông qua smartphone với người tiêu dùng ở bất cứ nơi đâu.

    Nhiều công cụ A.I, giàu dữ liệu hơn lại có ưu thế về độ chính xác mang tính định lượng, thổi làn gió mới vào một lĩnh vực nghiên cứu thị trường ngày càng mờ nhạt. Lấy ví dụ như Signals Analytics (được thành lập bởi 2 cựu chiến binh trong Cục Tình báo quân đội Israel) và Tastewise (một nền tảng phân tích thực đơn, blog và các công thức trực tuyến để dự đoán xu hướng thực phẩm). Các startup như thế đang thách thức những tổ chức nghiên cứu thị trường hàng đầu mà từ lâu làm việc cho các tập đoàn hàng tiêu dùng lớn như Kantar của WPP, Ipsos và Nielsen.

    Tất cả các công ty nghiên cứu thị trường thâm niên này đều đã chứng kiến lợi nhuận và doanh thu giảm xuống trong năm 2018, phần lớn do công nghệ đang làm thay đổi ngành kinh doanh của họ. “Ai nấy đều muốn những công cụ nghiên cứu thị trường nhanh hơn và chính xác hơn. Trong khi đó, các phương pháp ra đời trước thời đại kỹ thuật số thì lại thiếu độ nhanh nhạy, tính chính xác và khả năng dự đoán, không thể đáp ứng nhu cầu hiện tại”, Tim Warner, đứng đầu bộ phận nghiên cứu thị trường và tiêu dùng của PepsiCo tại châu Âu và một phần châu Phi, nhận định.

    Mối đe dọa cũng nhiều hơn cho các gã khổng lồ ngành hàng tiêu dùng vì mua sắm trực tuyến và mạng xã hội đã hạ thấp rào cản gia nhập ngành và làm xói mòn các lợi thế từng đi kèm với quy mô. Các thương hiệu mới ra đời và những tay chơi địa phương đã có mặt ở khắp các chủng loại sản phẩm từ bia, kem cho đến mỹ phẩm, dao cạo râu, định vị bản thân là những thương hiệu đích thực, vì sức khỏe hoặc có ý thức môi trường hơn so với các nhãn hàng truyền thống.

    Kết quả là tăng trưởng doanh thu trung bình của top 30 công ty hàng tiêu dùng lớn nhất thế giới đã giảm chỉ còn 0,4% hằng năm trong giai đoạn 2013-2018, từ mức 4,5% của giai đoạn 2007-2012, theo Bain & Company. Tăng trưởng trung bình về lợi nhuận hoạt động hằng năm cũng đã giảm phân nửa trong cùng thời gian trên.

    Tại Mỹ, các công ty hàng tiêu dùng lớn đã đánh mất 2,4 điểm phần trăm thị phần vào tay các công ty nhỏ hơn và những nhãn hàng riêng kể từ năm 2013, theo Boston Consulting Group. Trong khi đó, Unilever gần đây thừa nhận Tập đoàn đang mất thị phần trên khoảng phân nửa mảng kinh doanh. Thực tế thay đổi khiến Jorge Paulo Lemann, một trong những tỉ phú đứng đằng sau tập đoàn đầu tư 3G Capital (chủ sở hữu Kraft Heinz và Burger King), ví von mình như một “chú khủng long bị kinh sợ”. “Chúng tôi đã mua lại các nhãn hàng và nghĩ rằng chúng sẽ tồn tại mãi mãi. Giờ chúng tôi phải thay đổi để thích ứng với các nhu cầu mới từ phía khách hàng”, ông nói.
    Chuyển biến ở các tập đoàn lớn

    Thời đại thay đổi cũng khiến các tập đoàn hàng tiêu dùng có cách nhìn mới đối với dữ liệu và các công cụ tìm hiểu khách hàng. “Trong quá khứ, dữ liệu và nghiên cứu thị trường thường được xem là một khoản chi phí lớn và được đưa vào khoản mục cần cắt giảm. Nhưng giờ nó đã trở thành một tài sản chiến lược”, Warner thuộc PepsiCo cho biết.

    PepsiCo đã làm việc với 5 startup để xây dựng ADA, một bộ công cụ được gắn kết chặt chẽ trong một nền tảng độc quyền mà bất kỳ nhân viên nào trong doanh nghiệp đều có thể sử dụng. Mục đích của hệ thống ADA là nhằm nhận diện các xu hướng sớm hơn và nhanh chóng kiểm tra các ý tưởng về sản phẩm, bao bì và những thông điệp quảng cáo.

    Ngoài làm việc với Black Swan để nhận diện xu hướng, Pepsi cũng đang kết hợp với Zappi để thực hiện các cuộc khảo sát nhanh, kiểm tra nhanh và với VoxPopMe là thu thập thông tin qua các cuộc phỏng vấn người tiêu dùng. 2 startup khác là Been There Done That và Discover.ai thì tập trung vào việc định vị sản phẩm và các thông điệp marketing.

    Một trong những dự án đầu tiên sử dụng bộ công cụ nghiên cứu thị trường mới của Pepsi là nhãn hàng snack vì sức khỏe Off the Eaten Path, sử dụng rau củ quả như đậu, các loại hạt để tạo ra miếng snack giòn mà không dùng màu nhân tạo hoặc chất bảo quản. Khi Pepsi muốn tung ra sản phẩm thứ 3 thuộc dòng snack này vào năm ngoái, ADA đã xác định tảo biển sẽ là thành phần thu hút người tiêu dùng có ý thức về sức khỏe. Dòng sản phẩm snack mới, với các thành phần như gạo và những sợi tảo biển giòn có vị cay ngọt... đã xuất hiện trên các kệ siêu thị chỉ dưới 10 tháng sau đó, tương đối nhanh cho một đợt tung ra sản phẩm mới tại một công ty thực phẩm lớn.

    Quy trình kiểm tra như thế không phải là cách làm thường thấy ở các tập đoàn hàng tiêu dùng lớn. Thay vì trở thành trung tâm của quy trình cải tiến, nghiên cứu thị trường thường là một bộ phận riêng lẻ, không tương tác thường xuyên với đội ngũ kinh doanh hoặc các nhà quản lý nhãn hiệu. Thay vì tìm hiểu sâu lối suy nghĩ của người tiêu dùng, các tập đoàn lớn thường viết tóm tắt yêu cầu rồi gửi cho các tổ chức bên ngoài như Kantar và Ipsos để nghiên cứu ý tưởng marketing. “Nghiên cứu thị trường trước đây là để giảm thiểu rủi ro từ các quyết định doanh nghiệp đưa ra. Ngày nay, vai trò của chúng tôi đã thay đổi theo hướng dự báo những mong muốn của người tiêu dùng và tạo ra nhu cầu của họ”, Stan Sthanunathan, dẫn dắt bộ phận nghiên cứu tiêu dùng tại Unilever từ năm 2013, nhận xét.

    Bản thân Unilever không hoàn toàn dựa vào các startup. Cách đây 5 năm, Tập đoàn đã xây dựng một hệ thống lắng nghe người tiêu dùng qua mạng xã hội, đường dây tư vấn và thông tin theo yêu cầu và các website xếp hạng. Hiện Tập đoàn có hơn 30 nhóm người làm các công việc như vậy tại các thị trường khác nhau. Họ theo dõi những dòng chát trực tuyến và phản hồi lại cho các nhãn hàng dựa trên thông tin thu thập được, nhưng đồng thời cũng nhận làm nghiên cứu thị trường cho các bộ phận khác trong Công ty để theo dõi cách suy nghĩ của người tiêu dùng về một vấn đề cụ thể nào đó. Unilever có khoảng 700 người làm việc trong lĩnh vực nghiên cứu thị trường.

    Một công cụ mới tại Unilever được gọi là Idea Swipe, lấy cảm hứng từ ứng dụng hẹn hò Tinder. Ứng dụng này giúp thu thập dữ liệu có chất lượng thông tin tốt hơn và nhanh hơn so với các công cụ khảo sát cũ. Idea Swipe đã kiểm tra khoảng 5.000 ý tưởng tại hơn 25 quốc gia kể từ khi được tung ra cách đây 1 năm.

    Dù vậy, vẫn còn quá sớm để đánh giá liệu các công cụ số giúp dự báo xu hướng tiêu dùng và cải thiện năng lực marketing có đủ để thúc đẩy tăng trưởng nhanh hơn. Elio Leoni Sceti, một cựu chiến binh trong ngành và là nhà sáng lập The Craftory, cho rằng các công ty lớn vẫn còn thiếu kết nối với người tiêu dùng. Chuỗi cung ứng của họ vẫn chậm chạp và họ còn quá tập trung vào các kênh bán lẻ truyền thống thay vì trực tuyến, theo ông. Các nhãn hàng của họ cũng không đề cao sứ mệnh như được thấy ở những tay chơi mới. Một ví dụ là khoản đầu tư gần đây của The Craftory vào TomboyX, một startup sản xuất đồ lót cho tất cả mọi người, cho mọi kích cỡ và mọi giới tính. Hơn nữa, “cho dù các tay chơi lớn có lấy được thông tin sâu về người tiêu dùng thì họ thường không lắng nghe chúng”, Sceti nói.

    Văn Quốc (NCĐT)

    Đan Mạch: Ngân hàng Arbejdernes Landsbank xác nhận thông tin của khách hàng bị rò rỉ

    InfoMoneyÔng Jesper Bjerrehuus, quản lý truyền thông và báo chí của Arbejdernes Landsbank, xác nhận vụ rò rỉ trên do lỗi kỹ thuật của nhà cung cấp dịch vụ công nghệ thông tin cho ngân hàng.
    ngân hàng Arbejdernes Landsbank của Đan Mạch. (Nguồn: Scanpix)
    Ngân hàng Arbejdernes Landsbank của Đan Mạch. (Nguồn: Scanpix)

    Ngân hàng Arbejdernes Landsbank của Đan Mạch đã thừa nhận vô tình để rò rỉ các địa chỉ bảo mật của khách hàng.

    Ông Jesper Bjerrehuus, quản lý truyền thông và báo chí của Arbejdernes Landsbank, xác nhận vụ rò rỉ trên do lỗi kỹ thuật của nhà cung cấp dịch vụ công nghệ thông tin cho ngân hàng.

    Cụ thể, địa chỉ của khách hàng đã bị lộ trong quá trình chuyển tiền qua tài khoản, cho dù họ đã đăng ký bảo mật địa chỉ.

    Ông Bjerrehuus khẳng định lỗi trên đã được khắc phục và địa chỉ của khách hàng sẽ được bảo mật trong các hoạt động giao dịch trong tương lai.

    Arbejdernes Landsbank là một trong 7 ngân hàng lớn nhất tại Đan Mạch với hơn 250.000 khách hàng.

    Phương Oanh (TTXVN/Vietnam+)

    Lạm phát Eurozone ở mức thấp, gây sức ép để ECB "tái khởi động" chương trình kích thích kinh tế

    InfoMoneyLạm phát tại Eurozone vẫn ở mức thấp 1% trong tháng 8/2019 vừa qua, qua đó gây sức ép lên ECB “tái khởi động” chương trình kích thích kinh tế gây tranh cãi.
    Biểu tượng đồng Euro tại Frankfurt của Đức
    Biểu tượng đồng Euro tại Frankfurt của Đức

    Cơ quan Thống kê châu Âu (Eurostat) ngày 30/8 công bố số liệu cho thấy lạm phát tại Khu vực sử dụng đồng tiền chung châu Âu (Eurozone) vẫn ở mức thấp 1% trong tháng Tám vừa qua, qua đó gây sức ép lên Ngân hàng trung ương châu Âu (ECB) “tái khởi động” chương trình kích thích kinh tế gây tranh cãi.

    Số liệu mà Eurostat đưa ra trùng với dự báo của các chuyên gia phân tích tham gia khảo sát của công ty Factset và con số này cách khá xa mục tiêu dưới 2% của ECB.

    Số liệu trên được đưa ra giữa bối cảnh có lo ngại về tình hình kinh tế toàn cầu, vốn bị tác động nghiêm trọng bởi cuộc chiến thương mại Mỹ  -Trung, nhất là tới hoạt động xuất khẩu của Đức, nền kinh tế lớn nhất châu Âu.

    ECB sẽ xem xét cẩn thận lạm phát lõi, không tính giá các mặt hàng dễ biến động như năng lượng, vẫn giữ ở mức thấp 0,9% trong tháng Tám.

    Trong khi đó, tỷ lệ thất nghiệp tại Eurozone vẫn ổn định ở mức 7,5% trong tháng Bảy, mức thấp nhất kể từ tháng 7/2008. Còn tỷ lệ thất nghiệp tại 28 nước thành viên EU cũng đi ngang ở mức 6,3%, mức thấp nhất kể từ năm 2000.

    Eurostat cho biết tỷ lệ thất nghiệp ở EU trong tháng Bảy là tại Cộng hòa Séc với 2,1%, còn Hy Lạp có tỷ lệ thất nghiệp cao nhất ở mức 17,2%.

    M.H

    Moody's hạ triển vọng các ngân hàng đầu tư toàn cầu

    InfoMoneyMoody's vừa hạ triển vọng đối với các ngân hàng đầu tư toàn cầu từ mức "tích cực" xuống "ổn định".
    Ảnh minh họa. Nguồn: Internet
    Ảnh minh họa. Nguồn: Internet

    Theo hãng đánh giá xếp hạng tín nhiệm Moody's, lợi nhuận của các ngân hàng đầu tư toàn cầu như Goldman Sachs, J.P. Morgan, HSBC hay Deutsche Bank sẽ phải chịu áp lực lớn trong vòng 12 - 18 tháng tới.

    Đà giảm tốc của tăng trưởng kinh tế toàn cầu và việc các ngân hàng trung ương hạ lãi suất, hoặc thậm chí áp dụng lãi suất âm đang là những rủi ro hàng đầu mà các ngân hàng đầu tư phải đối mặt.

    Bên cạnh đó, việc đường cong lợi suất trái phiếu đảo ngược, phát đi tín hiệu về suy thoái kinh tế cũng là một mối đe dọa khác đối với các ông lớn trong ngành ngân hàng.

    Như Tầm

    Thái Lan "trải thảm đỏ" mời chào các công ty có ý định rời Trung Quốc

    InfoMoneyChính phủ Thái Lan vừa chỉ đạo Ủy ban Đầu tư nước này (BoI) soạn thảo các gói khuyến khích mới nhằm hỗ trợ những công ty chịu tác động của những căng thẳng thương mại Mỹ - Trung và muốn chuyển cơ sở sản xuất sang Thái Lan.
    Thái Lan đang soạn thảo các gói khuyến khích mới nhằm hỗ trợ những công ty muốn chuyển cơ sở sản xuất sang Thái Lan. Ảnh: AFP
    Thái Lan đang soạn thảo các gói khuyến khích mới nhằm hỗ trợ những công ty muốn chuyển cơ sở sản xuất sang Thái Lan. Ảnh: AFP

    Tại cuộc làm việc với BoI, Phó Thủ tướng Thái Lan Somkid Jatusripitak nói rằng cuộc đua thu hút các nhà đầu tư nước ngoài giữa các nước thành viên ASEAN đang nóng lên, trong bối cảnh cạnh tranh thương mại Mỹ-Trung không ngừng leo thang.

    Theo ông, các gói khuyến khích mới cần được soạn thảo để đáp ứng những yêu cầu cụ thể của nhà đầu tư đến từ các nước khác nhau. Chẳng hạn, doanh nhân Hàn Quốc muốn đầu tư vào những khu vực gần với các nhà máy hiện có của công ty Hàn Quốc, do đó Thái Lan cần đảm bảo có đủ chỗ trống trong các khu công nghiệp.

    Phó Thủ tướng Somkid yêu cầu phải chuẩn bị những gói kích thích theo yêu cầu của khách hàng, với những ưu đãi đầu tư chi tiết phù hợp với từng công ty. Các gói này cũng phải linh hoạt và có thể thương lượng.

    Tổng Thư ký BoI Duangjai Asawachintachit cho biết cơ quan này đặt mục tiêu thu hút đầu tư nước ngoài 750 tỷ baht (24,5 tỷ USD) trong năm nay, chú trọng vào những công ty muốn chuyển cơ sở sản xuất của họ từ Trung Quốc sang Thái Lan.

    Theo bà Duangjai, hiện BoI có một danh sách gồm hơn 100 công ty ở Trung Quốc và những nước khác muốn di chuyển sang Thái Lan. BoI sẽ áp dụng 3 chiến lược đối với những công ty này, tùy thuộc vào loại hình kinh doanh và nhu cầu cụ thể.

    Chiến lược đầu tiên là cung cấp gói khuyến khích được điều chỉnh theo nhu cầu của khách hàng nhằm hỗ trợ họ giảm thiểu tổn thất từ chiến tranh thương mại. Chiến lược thứ hai là thuyết phục đầu tư vào Hành lang Kinh tế phía Đông (EEC). Chiến lược cuối cùng là cung cấp những gói kích thích kinh tế dành cho các công ty nhỏ và vừa (SME).

    Ngọc Quang (TTXVN)

    Thâm hụt ngân sách Mỹ có thể lên tới 1.000 tỷ USD

    InfoMoneyMức thâm hụt ngân sách 1.000 tỷ USD vào năm 2020 sẽ được coi là “vũ khí” mới của đảng Dân chủ Mỹ trước những nỗ lực tái tranh cử của Tổng thống Donald Trump.
    Đồng đô la Mỹ. Ảnh (THX/TTXVN)
    Đồng đô la Mỹ. Ảnh (THX/TTXVN)

    Ngày 21/8, Văn phòng Ngân sách Quốc hội Mỹ (CBO) dự báo thâm hụt ngân sách của Mỹ đang tăng nhanh hơn dự kiến, có thể lên tới 1.000 tỷ USD vào năm tài khóa 2020. Trong khi đó, cạnh tranh thương mại đang đè nặng lên nền kinh tế lớn nhất thế giới, đặt ra những thách thức lớn đối với Tổng thống Mỹ Donald Trump trước thềm cuộc bầu cử vào năm tới.

    Theo phóng viên TTXVN tại Mỹ, mức thâm hụt trên ghi nhận sớm hơn hai năm so với dự báo trước đó. Trước đó, mức thâm hụt ngân sách trong tài khóa kết thúc vào ngày 30/9 tới được ước tính khoảng 960 tỷ USD. Tháng Một vừa qua, CBO đã dự đoán thâm hụt ngân sách của Mỹ trong tài khóa 2020 sẽ là 890 tỷ USD và đến tài khóa 2022 sẽ vượt ngưỡng 1.000 tỷ USD.

    Mức thâm hụt ngân sách này sẽ đánh dấu lần đầu tiên vượt ngưỡng 1.000 tỷ USD kể từ năm 2012 khi nền kinh tế Mỹ phục hồi sau cuộc khủng hoảng tài chính. Đây sẽ được coi là  “vũ khí” mới của đảng Dân chủ Mỹ trước những nỗ lực tái tranh cử của Tổng thống Donald Trump.

    Mức dự báo trên của CBO trái ngược với tuyên bố trước đó của Cố vấn Kinh tế Nhà Trắng Larry Kudlow khẳng định thâm hụt ngân sách “đang giảm và sẽ giảm nhanh”, đồng thời cho rằng đây không phải là một vấn đề lớn và có thể kiểm soát.

    Theo số liệu của CBO, thâm hụt sẽ ở mức tương đương 4,6% Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và duy trì mức dưới 5% GDP cho đến hết năm 2026. Vấn đề lớn hơn là nợ chính phủ, được dự báo sẽ tăng tỷ lệ trong nền kinh tế, từ mức 81% GDP trong năm nay lên 95% vào năm 2029.

    CBO dự báo tăng trưởng kinh tế Mỹ quý Tư năm 2019 ở mức 2,3%, trong khi tăng trưởng năm tới là 2,1%, cao hơn mức dự đoán 1,7% của cơ quan này trước đó. Theo CBO, kinh tế Mỹ sẽ giảm tốc xuống mức tăng trưởng khoảng 1,6% cho đến hết năm 2029.

    Đặng Huyền (TTXVN/Vietnam+)

    Chính sách của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) trong dòng chảy của nền kinh tế Mỹ

    InfoMoneyBất cứ động thái nào của Fed trong việc tăng hay giảm lãi suất cũng có tác động lớn tới nền kinh tế Mỹ nói riêng và nền kinh tế toàn cầu nói chung.
    Trụ sở Fed ở Washington, DC, Mỹ. (Ảnh: THX/TTXVN)
    Trụ sở Fed ở Washington, DC, Mỹ. (Ảnh: THX/TTXVN)

    Với vai trò giám sát kinh tế Mỹ, những chính sách mà Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) hay còn được biết đến là Ngân hàng Trung ương Mỹ có vai trò quan trọng trong việc điều tiết chính sách tiền tệ của Mỹ, giúp nền kinh tế lớn nhất thế giới này ổn định và phát triển.

    Trong những năm qua, Fed đã phát huy tốt vai trò của mình nhằm củng cố nền kinh tế Mỹ trước những rủi ro thông qua việc ổn định giá cả và điều chỉnh lãi suất dài hạn.

    Chính vì vậy, bất cứ động thái nào của Fed trong việc tăng hay giảm lãi suất cũng có tác động lớn tới nền kinh tế Mỹ nói riêng và nền kinh tế toàn cầu nói chung.

    Quyết đoán trong chính sách

    Sau cuộc đại suy thoái năm 2008, Fed đã cắt giảm lãi suất cho vay xuống mức 0% với nỗ lực vực dậy nền kinh tế nước Mỹ. Trong một vài năm sau, Mỹ vẫn cố gắng duy trì lãi suất thấp đối với một số khoản vay doanh nghiệp và thế chấp mua ôtô.

    Tuy nhiên, bốn năm trước, Fed bắt đầu tăng lãi suất dần dần để đưa chúng trở lại mức bình thường hơn. Điều đó sẽ giúp Fed có thêm cơ hội cắt giảm lãi suất nếu nền kinh tế tăng trưởng chậm lại, chẳng hạn như thời điểm hiện tại, hoặc khi kinh tế rơi vào suy thoái.

    Fed cũng tăng lãi suất khi lạm phát trở nên quá cao hoặc không ổn định và năm 2018 là một ví dụ.

    Với những dấu hiệu khả quan, như nền kinh tế Mỹ tăng trưởng mạnh, thị trường việc làm tiếp tục cải thiện, Fed đã quyết định tăng lãi suất 4 lần liên tiếp nhằm giảm đà kích thích kinh tế của chính sách tiền tệ bởi theo các nhà hoạch định chính sách của Fed, nền kinh tế Mỹ tăng trưởng nhanh hơn mức được xem là bền vững.

    Là một trong số ít các ngân hàng Trung ương trên thế giới không chịu bất cứ sự kiểm soát hay quyết định nào từ Chính phủ nên các quyết sách được Fed đưa ra không phục vụ bất kỳ nhóm lợi ích nào mà chỉ phục vụ lợi ích của người dân và các lợi ích công cộng.

    Việc Fed tăng hay giảm lãi suất được điều chỉnh phù hợp với thực trạng của nền kinh tế Mỹ. Đồng thời đảm bảo việc tăng lãi suất không diễn ra quá nhanh làm kìm hãm tăng trưởng quá mức cần thiết, hoặc quá chậm khiến nền kinh tế phát triển quá "nóng" kéo theo nguy cơ lạm phát, giá cả tăng cao. 

    Điều này lý giải tại sao dù phải đối mặt những chỉ trích gay gắt từ Tổng thống Mỹ Donald Trump, người nhiều lần cáo buộc Fed nâng lãi suất gây tổn hại cho nền kinh tế Mỹ, hay những lo ngại của giới chuyên gia về nguy cơ nền kinh tế sẽ rơi vào thời kỳ khó khăn trong năm 2019 khi tác động của "cú hích" tài chính từ chính sách chi tiêu và gói cắt giảm thuế 1.500 tỷ USD của Chính phủ giảm dần và kinh tế toàn cầu tăng trưởng chậm lại, Fed vẫn quyết tâm giữ vững sự độc lập trong việc hoạch định chính sách tiền tệ và vẫn tăng lãi suất liên tiếp trong năm 2018.

    Thậm chí, Fed còn dự kiến sẽ có thêm hai lần nâng lãi suất trong năm 2019 khi cho rằng kinh tế Mỹ tiếp tục vận hành tốt và không còn cần đến sự hỗ trợ của Fed thông qua việc nới lỏng chính sách.

    Thay đổi để "bắt nhịp" với nền kinh tế

    Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay với những biến động mạnh của thị trường cũng như cuộc chiến thương mại leo thang giữa Mỹ và Trung Quốc chưa có hồi kết, bước sang năm 2019  Fed đã thay đổi đáng kể lập trường thắt chặt chính sách tiền tệ đã được thực hiện trong suốt 5 năm qua, từ liên tục tăng lãi suất sang giữ nguyên lãi suất và cắt giảm lãi suất.

    Trong quý 1/2019, Fed đã giữ quan điểm thận trọng hơn giữa những dấu hiệu về sự giảm tốc của kinh tế Mỹ và quyết định ngừng tăng lãi suất của Fed nhằm bảo vệ và hỗ trợ tích cực nền kinh tế Mỹ trước những bất ổn kinh tế gia tăng từ cuộc xung đột thương mại, giảm áp lực dòng chảy rút vốn khỏi các thị trường mới nổi như năm 2018.

    Mục tiêu của Fed là duy trì lạm phát ở mức 2% lâu nhất để thúc đẩy một nền kinh tế mạnh mẽ, tạo thêm việc làm và nâng cao mức sống cho người Mỹ.

    Bước sang quý 2/2019, báo cáo thường kỳ của Bộ Lao động Mỹ cho thấy khu vực phi nông nghiệp của nước này chỉ tạo thêm 75.000 việc làm mới trong tháng 5/2019, ít hơn nhiều so với mức dự báo 185.000 việc làm mới mà giới phân tích đưa ra trước đó - một dấu hiệu cho thấy hoạt động trong nền kinh tế Mỹ đang mất đà.

    Thêm vào đó, các số liệu khác của kinh tế Mỹ như doanh thu bán lẻ, sản lượng ngành chế biến-chế tạo và chi mua sắm của các hộ gia đình... đều cho thấy sự yếu đi.

    Trước tình hình đó, Fed đã đưa ra hành động phù hợp để duy trì đà tăng trưởng của nền kinh tế như tuyên bố trước đó là cắt giảm lãi suất lần đầu tiên sau hơn 10 năm với mức 0,25 điểm phần trăm, tương đương với mức tăng lãi suất mỗi lần của Fed trong chuỗi 9 lần nâng lãi suất từ năm 2015 đến năm 2018.

    Theo Fed, việc cắt giảm lãi suất là cần thiết để duy trì chuỗi tăng trưởng kinh tế kéo dài kỷ lục của nước Mỹ trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đang tăng trưởng chậm lại và là động thái đi trước nhằm chống lại bất cứ cú sụt giảm tiềm năng nào trong tương lai.

    Trả lời phỏng vấn báo giới mới đây, Chủ tịch Fed chi nhánh St. Louis, ông James Bullar, cho rằng lãi suất của Mỹ hiện đang ở "ngưỡng hợp lý" và tỏ ra không mấy kỳ vọng về một đợt cắt giảm khác sớm hơn, bất chấp áp lực liên tiếp từ Tổng thống Trump về vấn đề này.

    Theo ông Bullard, sau khi giảm lãi suất lần đầu tiên trong một thập kỷ qua hồi tháng trước, các nhà hoạch định chính sách của Fed đã “góp chút sức lực” để giúp kinh tế Mỹ đối phó với những yếu tố bất ổn xung quanh các cuộc chiến thương mại. Giờ đây, Fed sẽ theo dõi cách nền kinh tế phản ứng như thế nào trước khi quyết định động thái tiếp theo.

    Theo giới phân tích, nếu kinh tế Mỹ giảm tốc do ảnh hưởng từ việc áp đặt, trả đũa thuế quan từ các đối thủ thương mại của Mỹ, chắc chắn Fed sẽ cân nhắc tiếp tục nới lỏng chính sách và cắt giảm lãi suất, không chỉ một mà thậm chí là hai lần trong năm 2019. Vấn đề ở chỗ ngưỡng nào sẽ kích hoạt lần cắt giảm lãi suất tiếp theo của Fed.

    Với việc hạ dự báo tăng trưởng kinh tế Mỹ, tỷ lệ thất nghiệp và lạm phát, các nhà hoạch định chính sách của Fed dự đoán lãi suất liên bang sẽ ổn định cho tới cuối năm 2019. Theo Chủ tịch Fed Jerome Powell, đợt cắt giảm lãi suất trong tháng Bảy vừa qua không phải điểm bắt đầu một chu kỳ giảm lãi suất mới.

    Dù Fed có quyết định tăng hay giữ nguyên lãi suất, những thông điệp dự báo nhất quán dựa trên các chỉ báo kinh tế được cập nhật có hệ thống, thường xuyên cũng đã giúp thị trường Mỹ chuẩn bị tốt trước mọi hoàn cảnh.

    Đặng Huyền (TTXVN/Vietnam+)
1 2 3 4 5
close

Top