...

Money News

  • Giá vàng hôm nay 20/4: Ở đáy và tiếp tục giảm

    Vàng thỏi và vàng tương lai giảm nhẹ từ mức thấp trong bốn tháng sau lo ngại về tăng trưởng của nền kinh tế lớn nhất thế giới.
  • Lên sàn ngoại, ngân hàng nội được gì?

    Một lần nữa, mục tiêu đến năm 2025 sẽ có 3 - 5 ngân hàng Việt niêm yết trên sàn chứng khoán ngoại được nhấn mạnh. Nhưng lên sàn, ngân hàng nội sẽ được hưởng lợi gì?
  • Cho vay nhà ở xã hội sẽ trở thành một trụ cột của công tác an sinh xã hội

    Đó là nhận định của ông Nguyễn Văn Lý, Phó tổng giám đốc Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) với báo chí liên quan đến nguồn vốn, lãi suất, chính sách ưu đãi của chương trình cho vay nhà ở xã hội.
  • Giá vàng hôm nay 19/4: Áp lực bán tháo, vàng chìm sâu dưới đáy

    InfoMoneyGiá vàng hôm nay 19/4 trên thị trường thế giới tiếp tục chìm sâu dưới đáy 4 tháng do áp lực bán tăng mạnh và đồng USD tăng khá mạnh trở lại trong bối cảnh Mỹ đón nhiều tin tốt.
    Giá vàng hôm nay: giảm sâu.
    Giá vàng hôm nay: giảm sâu.

    Tới đầu giờ sáng 19/4 (giờ Việt Nam), giá vàng thế giới giao ngay đứng ở mức 1.274 USD/ounce.

    Giá vàng giao tháng 6 năm 2019 trên sàn Comex New York đứng ở mức 1.275 USD/ounce.

    Giá vàng hôm nay thấp hơn 2,2% (28,5 USD/ounce) so với đầu năm 2018. Vàng thế giới quy đổi theo giá USD ngân hàng có giá 35,3 triệu đồng/lượng, chưa tính thuế và phí, thấp hơn 1 triệu đồng so với vàng trong nước.

    Giá vàng thế giới tiếp tục chìm sâu dưới đáy 4 tháng do áp lực bán tăng mạnh và đồng USD tăng khá mạnh trở lại trong bối cảnh Mỹ đón nhiều tin tốt.

    Vàng giảm giá do áp lực bán ra khá mạnh sau khi hàng loạt các tín hiệu cho thấy giới đầu tư đang quay trở lại với các loại tài sản có độ rủi ro cao như chứng khoán trong bối cảnh sự lo ngại về khả năng nền kinh tế thế giới, trong đó có Mỹ suy giảm tăng trưởng đã không còn lớn như trước.

    Các tín hiệu cho thấy kinh tế Mỹ và Trung Quốc có dấu hiệu khởi sắc trở lại. Những tín hiệu tích cực về đàm phán thương mại Mỹ Trung cũng giúp lo ngại suy giảm tăng trưởng kinh tế không còn lớn nữa. 

    Áp lực bán ra thể hiện ra khó nét với việc quỹ giao dịch vàng lớn nhất thế giới SPDR Gold Trust đã giảm lượng vàng nắm giữ xuống mức thấp nhất 6 tháng: 752,27 tấn. Lượng vàng do SPDR Gold Trust nắm giữ đã giảm 4,5% kể từ đầu năm đến nay.

    Vàng giảm giá còn do đồng USD tăng mạnh trở lại sau khi Mỹ công bố thêm các thông tin tích cực.

    Theo Bộ thương mại Mỹ, tổng mức bán lẻ của Mỹ đã tăng 1,6% trong tháng 3, sau một tháng 2 giảm 0,2%. Trước đó, các nhà kinh tế chỉ dám dự báo tổng mức bán lẻ trong tháng 3 tăng 0,9%.

    Đồng bạc xanh tăng giá còn do đồng euro suy giảm khá mạnh sau khi tình hình kinh doanh trong khu vực này chịu nhiều áp lực và nó dẫn đến nỗi lo về tăng trưởng kinh tế trong khu vực sử dụng đồng euro.

    Trên thị trường vàng trong nước, chốt phiên ngày 18/4 đa số các cửa hàng vàng giữ giá vàng 9999 trong nước gần như không đổi ở cả 2 chiều mua vào và bán ra so với phiên liền trước.

    Tính tới cuối phiên giao dịch 18/4, Tập Đoàn Vàng bạc đá quý DOJI niêm yết giá vàng SJC ở mức: 36,24 triệu đồng/lượng (mua vào) và 36,34 triệu đồng/lượng (bán ra). Công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn niêm yết vàng SJC ở mức: 36,21 triệu đồng/lượng (mua vào) và 36,38 triệu đồng/lượng (bán ra).

    Theo Doji, giá vàng thế giới dịch chuyển theo xu hướng giảm dần trong khi giá vàng trong nước duy trì khá ổn định. Thị trường trong ngày giao dịch khá trầm lắng đa phần ghi nhận là các giao dịch nhỏ lẻ từ người dân mua vào tích trữ. Ghi nhận đến cuối phiên, số lượng khách tham gia giao dịch theo chiều mua vàng chiếm 60% trên tổng số lượng khách tham gia giao dịch tại Doji.

    V. Minh (vietnamnet)

    Nắn dòng chảy tín dụng ngân hàng vào kênh trái phiếu

    InfoMoneyNhu cầu huy động vốn trái phiếu doanh nghiệp đang tăng. Ngân hàng Nhà nước dự kiến bổ sung một số trường hợp không được cấp tín dụng để dòng tín dụng chảy vào trái phiếu doanh nghiệp chất lượng hơn.

    Một số trường hợp không được cấp tín dụng

    Ngân hàng Nhà nước đang lấy ý kiến cho dự thảo Thông tư thay thế Thông tư 36/2014/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

    Trong đó, dự thảo bổ sung một số nội dung liên quan tới việc giới hạn, hạn chế cấp tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro cao như cấp tín dụng để đầu tư, kinh doanh cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp.

    Cụ thể, dự thảo Thông tư quy định, ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được cấp tín dụng cho khách hàng đầu tư, kinh doanh trái phiếu doanh nghiệp trong các trường hợp sau: khách hàng thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 126 Luật Các tổ chức tín dụng; khách hàng là người có liên quan của các đối tượng quy định tại khoản 1 và khoản 4 Điều 126 Luật Các tổ chức tín dụng; khách hàng là đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 127 Luật Các tổ chức tín dụng (đã được sửa đổi, bổ sung), khách hàng là người có liên quan của đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 127 Luật Các tổ chức tín dụng (đã được sửa đổi, bổ sung); để đầu tư trái phiếu chưa niêm yết trên thị trường chứng khoán hoặc chưa đăng ký giao dịch trên thị trường giao dịch của công ty đại chúng chưa niêm yết (UPCoM).

    Bên cạnh đó, ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được cấp tín dụng để khách hàng đầu tư trái phiếu doanh nghiệp trong trường hợp để đầu tư, kinh doanh trái phiếu doanh nghiệp của doanh nghiệp là công ty con của chính ngân hàng đó.

    Cơ sở bổ sung quy định này đến từ thực tiễn, một số doanh nghiệp là công ty con của ngân hàng thương mại thực hiện huy động vốn thông qua việc ngân hàng mẹ (A) cho vay đối với một tổ chức (B) là sân sau của A và công ty con của A để tổ chức B mua trái phiếu của doanh nghiệp. 

    Thúc đẩy minh bạch hóa thị trường

    Thị trường trái phiếu doanh nghiệp được đánh giá tăng trưởng mạnh trong những năm gần đây với lãi suất hấp dẫn, đạt được nhiều kết quả tích cực cả về quy mô và tính thanh khoản. Tuy nhiên, dư nợ thị trường trái phiếu doanh nghiệp hiện vẫn rất thấp. Cụ thể, thời điểm cuối năm 2018, dư nợ trái phiếu doanh nghiệp tăng 53% so với cuối năm 2017, nhưng chỉ bằng 8,5% GDP, trong khi bình quân của các nước trong khu vực là 22%.

     Giá trị phát hành trái phiếu doanh nghiệp giai đoạn 2014 - 2018.
    Giá trị phát hành trái phiếu doanh nghiệp giai đoạn 2014 - 2018.

    Trong lộ trình phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam đến năm 2020 của Bộ Tài chính, mục tiêu là tới năm 2030, dư nợ thị trường trái phiếu doanh nghiệp chiếm 20% GDP.

    Theo ông Cấn Văn Lực, chuyên gia Kinh tế trưởng Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), Giám đốc Trường Đào tạo BIDV, các nội dung đổi mới trong dự thảo Thông tư lần này là phù hợp với yêu cầu thực tiễn.

    Ông Lực đánh giá, việc bổ sung nội dung quy định về việc ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được cấp tín dụng để khách hàng đầu tư trái phiếu doanh nghiệp trong trường hợp để đầu tư, kinh doanh trái phiếu doanh nghiệp của doanh nghiệp là công ty con của chính ngân hàng đó sẽ giúp giảm rủi ro đối với giao dịch của các bên liên quan, qua đó làm minh bạch hóa hơn giao dịch này, giảm bớt sở hữu chéo, giảm bớt hiện tượng mâu thuẫn lợi ích có thể xuất hiện.

    Ví dụ, khi tổ chức tín dụng đầu tư vào chính trái phiếu công ty con thì các yếu tố về lãi suất (tổ chức tín dụng đôi khi sẵn sàng trả lãi suất cao hơn hoặc thấp hơn, không đúng với lãi suất của thị trường), chuyển vốn có thể sẽ không được minh bạch, rõ ràng, từ đó nảy sinh mâu thuẫn.

    Dự thảo quy định mới nếu được ban hành sẽ góp phần không nhỏ trong công cuộc làm lành mạnh hóa thực trạng lâu nay là sở hữu chéo và lợi ích nhóm, đồng thời minh bạch hoạt động tín dụng vào đầu tư.

    Đối với nội dung ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được cấp tín dụng cho khách hàng đầu tư trái phiếu chưa niêm yết trên thị trường chứng khoán hoặc chưa đăng ký giao dịch trên UPCoM, ông Lực cho rằng, có thể cần tính toán thêm.

    Bởi lẽ, quy định như vậy có thể tạo ra khó khăn đối với các doanh nghiệp không niêm yết, sẽ không có được khoản đầu tư trái phiếu từ các nhà đầu tư, tổ chức vay vốn của tổ chức tín dụng. Nhưng mặt tích cực là tạo ra động lực nhất định cho các doanh nghiệp đẩy nhanh quá trình niêm yết để thuận tiện hơn trong việc huy động vốn bằng cổ phiếu hoặc trái phiếu.

    Nội dung này cũng phù hợp với chủ trương của Chính phủ nhằm thúc đẩy minh bạch hoạt động của doanh nghiệp và yêu cầu doanh nghiệp phải niêm yết, nhất là với doanh nghiệp nhà nước sau khi cổ phần hóa; thúc đẩy tiến trình cổ phần hóa và niêm yết của doanh nghiệp.

    Thực tiễn cho thấy, nhu cầu phát hành trái phiếu của doanh nghiệp ngày càng gia tăng. Trong bối cảnh tín dụng vào bất động sản được kiểm soát chặt và nhu cầu tăng vốn của ngân hàng để đáp ứng tiêu chuẩn Basel II khiến lượng trái phiếu từ doanh nghiệp bất động sản và ngân hàng gia tăng, các doanh nghiệp ngành nghề khác đã quan tâm nhiều hơn đến việc huy động vốn qua kênh trái phiếu.

    Hiện Bộ Tài chính đang thúc đẩy triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm nâng cao tính công khai, minh bạch của việc huy động vốn dưới hình thức phát hành trái phiếu doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và nhà đầu tư tham gia giao dịch loại trái phiếu này.

    Theo Công ty Chứng khoán SSI, số liệu công bố của các doanh nghiệp đang niêm yết cho thấy, có 9.103 tỷ đồng trái phiếu doanh nghiệp được phát hành trong quý I/2019, cao hơn nhiều so với cùng kỳ năm 2018 là 2.816 tỷ đồng. Trong đó, đáng chú ý là 2.318 tỷ đồng trái phiếu của REE, kỳ hạn 10 năm, lãi suất cố định 7%/năm, được bảo lãnh bởi CGIF (thuộc Ngân hàng Phát triển châu Á) và 1.150 tỷ đồng trái phiếu của CII, kỳ hạn 10 năm, lãi suất cố định 7,2%/năm, được bảo lãnh bởi GuarantCo - một công ty dịch vụ bảo lãnh đa quốc gia thuộc PIDG.

    "Quy mô và chất lượng hoạt động của nhiều doanh nghiệp được cải thiện, các tổ chức bảo lãnh quốc tế quan tâm hơn đến thị trường trái phiếu Việt Nam, nên chất lượng trái phiếu doanh nghiệp đang tốt dần lên. Thêm vào đó, có sự tham gia tích cực của các ngân hàng thương mại với vai trò trung gian thu xếp và phân phối. Thị trường trái phiếu doanh nghiệp được kỳ vọng sẽ phát triển nhanh hơn trong thời gian tới", SSI nhận định.

    Minh Vui (Đầu tư chứng khoán)

    VPBank chính thức được áp dụng tiêu chuẩn Basel II

    InfoMoneyNgân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) chính thức được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận cho áp dụng Thông tư 41 quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng và trở thành một trong những ngân hàng đầu tiên được áp dụng tiêu chuẩn Basel 2 tại Việt Nam.

    Theo quyết định của Ngân hàng Nhà nước, VPBank sẽ bắt đầu tuân thủ các quy định tại Thông tư 41 từ ngày 1/5/2019. Quyết định trên cũng đồng nghĩa mọi hoạt động của VPBank sẽ tuân thủ theo chuẩn mực Basel II từ đầu tháng Năm.

    VPBank là một trong những ngân hàng đầu tiên đạt chuẩn Basel 2
    VPBank là một trong những ngân hàng đầu tiên đạt chuẩn Basel 2


    Basel II là một bộ tiêu chuẩn quốc tế không chỉ bao gồm việc lượng hóa rủi ro thông qua các chỉ số và mô hình, mà còn bao gồm việc hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản trị rủi ro, hoàn thiện các chính sách rủi ro, nâng cao văn hóa rủi ro và tăng cường tính minh bạch của thị trường. Tuân thủ theo Basel II là ngân hàng đã được thừa nhận đáp ứng được những nguyên tắc quản trị rủi ro cao hơn, hoạt động an toàn và bền vững hơn.

    VPBank là một trong 10 ngân hàng được Ngân hàng Nhà nước lựa chọn triển khai thí điểm Basel II từ năm 2014. Cũng kể từ năm 2014, Basel II là một trong những chương trình được ưu tiên cao nhất tại VPBank. Cụ thể, thay vì thuê đơn vị tư vấn bên ngoài triển khai Basel II, VPBank đã tự xây dựng một đội ngũ với 58 nhân sự toàn thời gian để thực hiện chương trình này. Trong suốt 4 năm qua, đã có 82 tiểu dự án liên quan tới Basel II được thực hiện, 28 khóa đào tạo và 15 mô hình đo lường rủi ro đã được triển khai.

    Một trong những thách thức mà nhiều ngân hàng gặp phải khi triển khai Basel II đó là đáp ứng yêu cầu vốn tối thiểu. Ở khía cạnh này, VPBank liên tục đáp ứng rất tốt trong những năm qua. Tỷ lệ an toàn vốn (CAR) của VPBank trong những năm gần đây luôn cao hơn rất nhiều so với quy định 8% theo tiêu chuẩn Basel II. Kết thúc năm 2018, hệ số CAR theo tiêu chuẩn Basel II của VPBank là 11,2%.

    Tuy nhiên, tỷ lệ an toàn vốn chỉ là một điều kiện buộc phải tuân theo. Lợi ích lớn hơn ngân hàng có được khi hoàn toàn tuân thủ Basel II là áp dụng những tiêu chuẩn đó vào hoạt động kinh doanh. Đi cùng với đó là mô hình quản trị rủi ro với 3 vòng bảo vệ. Thay vì chỉ tập trung vào mục tiêu kinh doanh, trong 3 năm qua, ngân hàng đã tập trung vào việc cân bằng giữa mục tiêu kinh doanh và quản trị rủi ro. Tất cả các đơn vị kinh doanh và đơn vị hỗ trợ thường xuyên nhận được báo cáo về mức độ sử dụng vốn theo chuẩn Basel II, cũng như các đề xuất nhằm tối ưu hóa việc sử dụng vốn, giúp giảm thiểu rủi ro trong các hoạt động của ngân hàng. Các quyết định kinh doanh nhờ đó không chỉ dựa trên lợi nhuận, mà còn cân nhắc các yếu tố rủi ro đã được lượng hóa.

    Kết quả là trong 4 năm trở lại đây, VPBank luôn nằm trong nhóm ngân hàng có doanh thu và lợi nhuận lớn nhất hệ thống. Hiệu suất thu lời trên từng đồng vốn cũng thuộc nhóm cao nhất thị trường. Tổng thu nhập hoạt động trong năm 2018 của ngân hàng là hơn 31.000 tỷ đồng, lợi nhuận hợp nhất trước thuế xấp xỉ 9.200 tỷ đồng. Hiệu suất sinh lời trên tổng tài sản và vốn chủ sở hữu lần lượt là 2,4% và 22,8%.

    Như vậy, với việc được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận tuân thủ Thông tư 41, VPBank đã xây dựng được một khung quản trị rủi ro vững chắc. Đồng thời, do một trong 3 trụ cột của Basel II là minh bạch thông tin, hoạt động quản trị doanh nghiệp của VPBank cũng sẽ minh bạch hơn, nâng cao tính hiệu quả hoạt động trên nguyên tắc thị trường. Cuối cùng, khung quản trị rủi ro vững chắc và hoạt động minh bạch sẽ tạo nền tảng cho ngân hàng mở rộng hoạt động kinh doanh trong tương lai một cách bền vững và hiệu quả.

    Như Loan

    Kết nối ngân hàng - doanh nghiệp phát triển sản phẩm chủ lực của TP.HCM

    InfoMoneyNgày 18/4 tại TP. HCM diễn ra Hội nghị kết nối Ngân hàng – Doanh nghiệp do Phó Thống đốc NHNN Đào Minh Tú cùng Phó Chủ tịch Thường trực UBND thành phố Hồ Chí Minh Lê Thanh Liêm đồng chủ trì.

    Nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp về nguồn vốn, tập trung vốn vào sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của từng địa phương, trong tháng 4, tháng 5/2019, NHNN đã tổ chức các Hội nghị Kết nối Ngân hàng – Doanh nghiệp tại 3 thành phố Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng với sự chủ trì của Lãnh đạo NHNN và Lãnh đạo UBND thành phố nơi tổ chức Hội nghị. 

    Có thể nói, cộng đồng doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp tư nhân nói riêng có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Với tinh thần đó, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020, đề ra mục tiêu xây dựng doanh nghiệp Việt Nam có năng lực cạnh tranh, phát triển bền vững, trong đó doanh nghiệp tư nhân là động lực nâng cao sức cạnh tranh và tính tự chủ của nền kinh tế.

    NHNN đã xây dựng các Chương trình hành động của ngành, triển khai quyết liệt nhiều giải pháp góp phần cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia tạo thuận lợi cho phát triển doanh nghiệp như: (i) điều hành chính sách tiền tệ - tín dụng chủ động, linh hoạt và đồng bộ nhằm tạo điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận vốn tín dụng phục vụ sản xuất và kinh doanh cho người dân, doanh nghiệp; (ii) xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) là một trong năm lĩnh vực ưu tiên, chỉ đạo các TCTD tập trung vốn cho vay, quy định trần lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VNĐ đối với lĩnh vực này thấp hơn từ 1% - 1,5%/năm so với các lĩnh vực thông thường khác

    Đồng thời, hoàn thiện khung khổ pháp lý về hoạt động cho vay của TCTD theo hướng tăng cường thẩm quyền quyết định và chịu trách nhiệm của TCTD trong việc cho vay đối với doanh nghiệp, người dân; (iv) triển khai các chương trình, chính sách tín dụng đặc thù hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn trong một số ngành/lĩnh vực; phối hợp với các Bộ, ngành liên quan hoàn thiện cơ chế hỗ trợ DNNVV, tích cực triển khai Luật Hỗ trợ DNNVV.

    Từ năm 2014, NHNN đã phối hợp với UBND các tỉnh, thành phố triển khai rộng rãi trên toàn quốc Chương trình kết nối Ngân hàng – Doanh nghiệp. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, UBND các cấp và sự phối hợp của các ngành chức năng, ngành Ngân hàng đã tổ chức nhiều buổi gặp gỡ doanh nghiệp để lắng nghe phản ánh của doanh nghiệp, để cùng các Sở, ngành, chính quyền các cấp tháo gỡ cho doanh nghiệp những khó khăn, vướng mắc trong việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển kinh tế xã hội tại các địa phương.

    Việc tổ chức hội nghị kết nối tại 3 thành phố lớn lần này cũng không nằm ngoài mục đích đó. Với những nỗ lực của cả hệ thống ngân hàng, dư nợ tín dụng nền kinh tế cuối năm 2018 tăng gần 14%, trong 3 tháng đầu năm 2019 tiếp tục tăng khoảng 2,8% so với cuối năm 2018. 

    TP.HCM  là địa phương triển khai tích cực các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp, đặc biệt đi đầu trong cả nước về triển khai có hiệu quả Chương trình kết nối Ngân hàng – Doanh nghiệp.

    Các hình thức kết nối được tổ chức phong phú, đa dạng như: (i) ký kết cho vay theo chuyên đề (nông nghiệp nông thôn, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao...) giữa ngân hàng và doanh nghiệp trên địa bàn; (ii) tổ chức kết nối do UBND các quận/huyện chủ trì phối hợp với NHNN chi nhánh thành phố, các TCTD và các đơn vị, tổ chức khác trên địa bàn; (iii) các TCTD chủ động xây dựng và đăng ký triển khai các Gói tín dụng cho vay đối với khách hàng là cá nhân, tổ chức trên địa bàn với lãi suất ưu đãi.

    Năm 2018, các TCTD trên địa bàn TP.HCM đã cho vay theo Chương trình được 10.593 khách hàng với số tiền 285.544 tỷ đồng; trong đó giải ngân cho vay theo Gói tín dụng ưu đãi lãi suất là 269.493 tỷ đồng cho 10.092 khách hàng với lãi suất cho vay ngắn hạn không quá 6,5%/năm, trung dài hạn xoay quanh 9%/năm.

    Kết quả triển khai Chương trình kết nối Ngân hàng – Doanh nghiệp đã góp phần giúp TP.HCM đạt tốc độ tăng trưởng tín dụng cuối năm 2018 là 14,69%, dư nợ cho vay DNNVV đạt 346.248 tỷ đồng, từ đó góp phần vào tăng trưởng kinh tế của Thành phố đạt 8,3%.Các kết quả trên đã cho thấy những cố gắng của ngành ngân hàng, các doanh nghiệp trong thời gian qua, đóng góp không nhỏ vào sự phát triển của kinh tế TP.HCM, cũng như hiệu quả của Chương trình kết nối ngân hàng – doanh nghiệp.

    Để nâng cao hiệu quả của các chương trình tín dụng đặc thù nhằm hỗ trợ doanh nghiệp, kịp thời tháo gỡ khó khăn và đáp ứng nhu cầu vốn vay cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, thời gian tới, Phó Thống đốc NHNN Đào Minh Tú cho biết, ngành Ngân hàng sẽ tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt góp phần kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô để tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp; tiếp tục triển khai quyết liệt các nhiệm vụ và giải pháp tại Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng góp phần cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia theo Nghị quyết 19, Nghị quyết 35, và Nghị quyết 02 của Chính phủ, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn ngân hàng.

    Bên cạnh đó, ngành ngân hàng sẽ tiếp tục thực hiện các giải pháp hỗ trợ TCTD mở rộng tín dụng có hiệu quả, chú trọng vào các lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên; đồng thời kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro; thường xuyên phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương các tỉnh, thành phố để tháo gỡ các vướng mắc, khó khăn cho doanh nghiệp; chỉ đạo các TCTD đẩy mạnh triển khai các chương trình, chính sách tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ, NHNN; tiếp tục rà soát, cải tiến quy trình cho vay, thủ tục vay vốn, rút ngắn thời gian giải quyết cho vay, đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ ngân hàng. 

    Ngoài ra, NHNN tiếp tục phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương trong xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách và triển khai có hiệu quả các chương trình tín dụng đối với ngành, lĩnh vực, tín dụng chính sách theo chủ trương của Chính phủ; hoàn thiện và triển khai đồng bộ các chính sách hỗ trợ DNNVV, đặc biệt là chính sách về bảo lãnh tín dụng cho DNNVV vay vốn TCTD, hỗ trợ vốn thông qua Quỹ phát triển DNNVV.

    Thùy Vinh

    Tỷ giá không còn áp lực lớn trong năm 2019

    InfoMoneyTrước động thái Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) ngừng tăng lãi suất, thị trường tài chính - tiền tệ trong nước sẽ không chịu tác động nào quá đột biến trong năm 2019.
    Diễn biến tỷ giá USD/VND tại một số thời điểm.
    Diễn biến tỷ giá USD/VND tại một số thời điểm.

    Không còn áp lực từ Fed

    Trong cuộc họp tháng 3/2019, Fed đã quyết định hạn chế việc tăng lãi suất USD. Điều này làm cho Chỉ số USD thời gian qua giảm 1,5% và có thể sẽ còn giảm tiếp.

    Thực tế, tỷ giá USD/VND tăng thời gian qua là do lãi suất cơ bản USD có 4 lần tăng trong năm 2018 (hiện ở mức 2,25 - 2,5%) và nhiều đồng tiền chủ chốt nằm trong rổ tiền tệ tính tỷ giá trung tâm mất giá 3 - 10% so với USD. Chính điều này làm cho tỷ giá trung tâm và tỷ giá giao dịch trên thị trường liên ngân hàng và tự do đều tăng.

    Kiều hối năm 2018 đạt mức kỷ lục 16 tỷ USD, cán cân thương mại cũng thặng dư kỷ lục 6,8% tỷ USD, vốn FDI giải ngân đạt tới 19,1 tỷ USD, làm cho thanh khoản USD trên thị trường ổn định và tỷ giá USD/VND khó tăng cao.

    Theo nhiều dự báo, tỷ giá ngoại tệ năm nay sẽ ổn định, bởi kiều hối chuyển về Việt Nam, thặng dư thương mại của Việt Nam và giải ngân vốn FDI đều tăng…, hỗ trợ tích cực cho tỷ giá.

    TS. Bùi Quang Tín, chuyên gia ngân hàng cho rằng, tỷ giá năm 2019 sẽ phụ thuộc rất lớn vào hành động của Fed và quan hệ thương mại Mỹ - Trung. Có thể sau thời hạn trì hoãn áp thuế 90 ngày kể từ cuối năm 2018, xung đột thương mại Mỹ - Trung có thể lại gia tăng. Nếu điều đó xảy ra sẽ tác động tiêu cực đến tỷ giá USD/VND. Bởi khi căng thẳng thương mại Mỹ - Trung tăng lên, Trung Quốc không thể dùng đòn thương mại với Mỹ, mà sẽ phải sử dụng chính sách tiền tệ.

    Trong 3 tháng qua, nhân dân tệ mất giá gần 10%, đi kèm với đó là một loạt đồng ngoại tệ khác trong rổ tiền tệ, như AUD, EUR, CAD, đã mất giá 3 - 7%. Tỷ giá USD/VND được dự báo chỉ tăng 1,5 - 2% năm nay.

    Tâm lý găm giữ ngoại tệ giảm

    Cùng với việc kiểm soát tỷ giá, giữ tỷ giá linh hoạt và ổn định trong năm nay, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tiếp tục chủ trương duy trì lãi suất tiền gửi ngoại tệ ở mức 0%/năm.

    Theo lãnh đạo NHNN, từ sau khi áp dụng chính sách lãi suất tiền gửi bằng USD về 0%/năm, diễn biến tỷ giá và thị trường ngoại hối ổn định, tâm lý găm giữ ngoại tệ giảm. Hệ thống tổ chức tín dụng chuyển từ bán ròng sang mua ròng ngoại tệ từ năm 2016, tạo điều kiện cho NHNN mua được lượng lớn ngoại tệ để bổ sung quỹ dự trữ ngoại hối nhà nước. Trong quý I năm nay, tỷ giá USD/VND được giữ ổn định.

    Trước đó, thông tin từ Chính phủ cho biết, trước kỳ nghỉ Tết 2019, nhà điều hành chính sách tiền tệ đã mua vào khoảng 4 tỷ USD, nâng quy mô dự trữ ngoại hối quốc gia lên khoảng 63 tỷ USD. Từ sau nghỉ Tết Nguyên đán đến nay, ước tính, NHNN tiếp tục mua ròng thêm khoảng 2,5 tỷ USD, nâng kỷ lục dự trữ ngoại hối quốc gia lên mức mới. Ước tính, quy mô dự trữ ngoại hối Việt Nam tăng khoảng gấp đôi trong 3 năm qua.

    Tuy nhiên, theo chuyên gia tài chính Huỳnh Bửu Sơn, để thu hút được nguồn lực vào sản xuất - kinh doanh, thì ổn định kinh tế vĩ mô, ổn định giá trị VND đóng vai trò then chốt. Khi VND có giá trị ổn định, kinh tế vĩ mô thuận lợi, thì các nhu cầu tích trữ dự phòng tài sản bằng ngoại tệ, vàng sẽ giảm và nhu cầu đầu tư sẽ tăng lên. Chính vì vậy, NHNN đã và đang điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt với mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, góp phần nâng cao vị thế VND, củng cố niềm tin của người dân vào VND.

    Bên cạnh đó, NHNN đã triển khai các giải pháp để thu hút các nguồn ngoại tệ vào hệ thống ngân hàng, thể hiện qua chính sách quản lý hoạt động đại lý đổi ngoại tệ và chính sách mua - bán ngoại tệ tiền mặt của tổ chức tín dụng được phép với cá nhân để vừa đảm bảo mục tiêu thu hút ngoại tệ vào hệ thống ngân hàng, vừa đảm bảo mục tiêu quản lý thống nhất, chính sách quản lý ngoại hối đối với hoạt động đổi ngoại tệ quy định các tổ chức kinh tế để được làm đại lý đổi ngoại tệ cho tổ chức tín dụng được phép phải đáp ứng các điều kiện rất chặt chẽ theo quy định, nhằm đảm bảo hoạt động đổi ngoại tệ được thực hiện hiệu quả, đúng pháp luật; tạo thuận lợi cho cá nhân là công dân Việt Nam mua ngoại tệ để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu ở nước ngoài đối với các mục đích học tập, chữa bệnh, đi công tác, du lịch, thăm viếng ở nước ngoài.

    Thùy Vinh

    TPBank đạt chuẩn quốc tế Basel II trước thời hạn

    InfoMoneyĐây là chuẩn mực mà hệ thống ngân hàng Việt Nam đang hướng tới, đảm bảo hoạt động ổn định và tăng cường hiệu quả hoạt động. Hiện mới chỉ có 5 nhà băng được NHNN Việt Nam công nhận đạt chuẩn Basel II.

    TPBank vừa được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước trao quyết định áp dụng quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (phương pháp tiêu chuẩn của Basel II) kể từ 1/5. 

    TPBank đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe về quản trị rủi ro, sớm đạt chuẩn quốc tế Basel II so với các ngân hàng trong hệ thống.
    TPBank đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe về quản trị rủi ro, sớm đạt chuẩn quốc tế Basel II so với các ngân hàng trong hệ thống.

    Theo ông Nguyễn Hưng - Tổng giám đốc TPBank, ngân hàng đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn về quản trị rủi ro nhằm đảm bảo an toàn trong các hoạt động kinh doanh do Ngân hàng Nhà nước đưa ra.

    Nhà băng chủ động tính toán tác động định lượng, thực hiện báo cáo định kỳ triển khai Basel II, tham gia tích cực các chương trình đào tạo do Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tư vấn chuyên nghiệp tổ chức trong suốt 3 năm.

    "Đạt chuẩn Basel II sẽ giúp TPBank có nhiều thuận lợi hơn trong việc triển khai các mô hình kinh doanh mới, đem lại nhiều tiện ích cho khách hàng", đại diện ngân hàng cho biết.

    Trước đó TPBank cũng sớm xây dựng cơ chế quản trị rủi ro chặt chẽ nhằm đảm bảo các hoạt động của ngân hàng an toàn, minh bạch, ổn định. Những kinh nghiệm trong việc xây dựng cơ chế quản trị rủi ro nội bộ đã giúp ngân hàng đáp ứng các yêu cầu về mặt kỹ thuật của việc tính toán hệ số an toàn vốn theo hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước.

    a
    Đạt chuẩn Basel ll sẽ giúp TPBank có nhiều thuận lợi hơn trong việc triển khai các mô hình kinh doanh mới.

    Ngân hàng Nhà nước cũng chỉ định 10 ngân hàng tham gia thí điểm áp dụng Basel II, thời hạn áp dụng cho nhóm thí điểm đã phải điều chỉnh, lùi về năm 2020 do khó khăn trong việc tăng thêm vốn tự có cũng như nhiều vấn đề khác.

    "TPBank tuy không nằm trong nhóm thí điểm này, nhưng lại sớm chính thức đạt chuẩn quốc tế Basel II. Đó là nỗ lực của ngân hàng trẻ trên chặng đường phát triển theo hướng chuyên nghiệp và bền vững", đại diện nhà băng nhấn mạnh.

    T.L

    Giá vàng hôm nay 18/4: USD giảm, vàng vẫn ở đáy 4 tháng

    InfoMoneyGiá vàng hôm nay 18/4 trên thị trường thế giới ở đáy 4 tháng cho dù đồng USD giảm sau khi Trung Quốc công bố tăng trưởng kinh tế vượt dự báo.

     

    Giá vàng hôm nay 18/4: USD giảm, vàng vẫn ở đáy 4 tháng
    Giá vàng hôm nay: chìm ở đáy 4 tháng.

     

    Tới đầu giờ sáng 18/4 (giờ Việt Nam), giá vàng thế giới giao ngay đứng ở mức 1.275 USD/ounce.

     

    Giá vàng giao tháng 6 năm 2019 trên sàn Comex New York đứng ở mức 1.276 USD/ounce.

    Giá vàng hôm nay thấp hơn 2,1% (27,5 USD/ounce) so với đầu năm 2018. Vàng thế giới quy đổi theo giá USD ngân hàng có giá 35,3 triệu đồng/lượng, chưa tính thuế và phí, thấp hơn 1 triệu đồng so với vàng trong nước.

    Giá vàng thế giới ở đáy 4 tháng cho dù đồng USD giảm sau khi Trung Quốc công bố tăng trưởng kinh tế vượt dự báo.

    Theo South China Morning Post, nền kinh tế Trung Quốc ghi nhận tốc độ tăng trưởng 6,4% trong quý 1/2019. Đây là một tốc độ tăng trưởng ổn định so với quý trước và cao hơn mức dự đoán tăng 6,3% được giới phân tích đưa ra trước đó.

    Sở dĩ tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc được duy trì ổn định là nhờ sản xuất tại các nhà máy tăng mạnh. Sản lượng công nghiệp của Trung Quốc bất ngờ tăng 8,5% trong tháng 3, mức cao nhất kể từ tháng 7/2014.

    Doanh số bán lẻ trong tháng 3 của Trung Quốc cũng ghi nhận mức tăng cao: 8,7%. Số liệu xuất khẩu cũng cao hơn dự báo.

    Kinh tế Trung Quốc tăng ổn định trở lại một ph ần cũng nhờ hàng loạt các biện pháp hỗ trợ từ chính phủ nước này như: giảm thuế, tăng đầu tư cho cơ sở hạ tầng. 

    Số liệu tăng trường GDP cao hơn dự báo cũng đã giúp chứng khoán Trung Quốc tiếp tục tăng ấn tượng. Tính từ đầu năm tới nay, chỉ số Shanghai Composite đã tăng hơn 30% trong khi chỉ số Shenzhen Component tăng hơn 40%.

    Chứng khoán Trung Quốc tăng còn do giới đầu tư lạc quan vào khả năng nước này và Mỹ đạt được thỏa thuận thương mại.

    Đây là những yếu tố đã kéo giá vàng chìm ở đáy 4 tháng cho dù đồng USD suy yếu.

    Ở chiều ngược lại, nhiều người vẫn tỏ ra thận trọng với sự hồi phục của kinh tế Trung Quốc. Tốc độ tăng trưởng 6,4% trong quý 1 vượt dự báo nhưng là mức tăng theo quý chậm nhất của Trung Quốc trong 27 năm qua.

    Hơn thế, sự hồi phục 1 quý vẫn còn quá sớm để coi đây là sự đảo ngược tình thế bền vững.

    Trước đó, giới dầu tư lo ngại Trung Quốc sẽ hạ cánh cứng, khi phải đối phó với Mỹ đúng thời điểm họ chuyển dịch mô hình tăng trưởng. Trung Quốc vẫn đang trong cuộc chiến thương mại kéo dài với Mỹ, trong khi tiêu dùng nội địa suy giảm và nhu cầu xuất khẩu chậm hơn ở nước ngoài, cũng như các khoản nợ ở cả lĩnh vực công và tư.

    Trên thị trường vàng trong nước, chốt phiên ngày 17/4 đa số các cửa hàng vàng giảm giá vàng 9999 trong nước 90-100 ngàn đồng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra so với phiên liền trước.

    Tính tới cuối phiên giao dịch 17/4, Tập Đoàn Vàng bạc đá quý DOJI niêm yết giá vàng SJC ở mức: 36,22 triệu đồng/lượng (mua vào) và 36,35 triệu đồng/lượng (bán ra). Công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn niêm yết vàng SJC ở mức: 36,20 triệu đồng/lượng (mua vào) và 36,37 triệu đồng/lượng (bán ra).

    Theo Doji, giá vàng trong nước đuối sức và vừa ghi nhận mức sụt giảm điểm mạnh nhất trong 4 tháng qua do sự tác động giảm điểm của giá vàng thế giới. Xu hướng mua vàng vào có phần giảm nhiệt cho thấy nhà đầu tư bắt đầu giao dịch chậm lại và hướng sự quan tâm của mình tới những diễn tiếp theo từ thị trường 1uốc tế cũng như những động thái của thị trường trong nước.

     

    V. Minh (Dân Trí)
1 2 3 4 5 6
close

Top