...

Money News

  • Giá vàng hôm nay 8/2: Tăng không ngừng, thể hiện sức mạnh

    Sau khi đạt mức cao nhất từ đầu năm 2019 trên 1.300 đô la, kim loại vàng vẫn giữa được sức mạnh. Theo các nhà phân tích, xu hướng này tiếp tục tái diễn theo chiều đi ngang của đồng đô la.
  • Cuộc chiến ngân hàng và công ty công nghệ

    Ngân hàng mua công ty công nghệ là chuyện thường. Bây giờ công ty công nghệ đi mua ngân hàng mới là chuyện nóng. Đó là nhận định của một bạn đồng nghiệp của tôi cách đây mấy tháng ở Anh.
  • Giá vàng hôm nay 7/2: Tăng mạnh trong suốt tháng 2

    Giá vàng hôm nay 7/2 trên thị trường thế giới leo dần lên sát đỉnh cao 8 tháng và có xác suất tới 80% tăng giá mạnh trong phần còn lại của tháng 2 bất chấp đồng USD tiếp tục phát ra tín hiệu hồi phục.
  • Trang mới trong lịch sử ngành ngân hàng Việt Nam

    InfoMoneyChiến lược phát triển ngành ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 được nhận định sẽ giúp lịch sử ngành ngân hàng bước sang trang mới, với sức khỏe hệ thống vững chắc, tự tin hơn. Báo Đầu tư Chứng khoán đã có cuộc phỏng vấn Phó thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Kim Anh về chiến lược này.

    Lời Toà soạn: Ngày 8/8/2018, Chính phủ đã ban hành Quyết định 986/QĐ-TTg về Chiến lược phát triển ngành ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Chiến lược nêu rõ quan điểm của Chính phủ coi hệ thống tiền tệ, ngân hàng và hoạt động của các tổ chức tín dụng là huyết mạch của nền kinh tế, tiếp tục giữ vai trò trọng yếu trong tổng thể hệ thống tài chính Việt Nam.

    Ổn định hoạt động của hệ thống tổ chức tín dụng đóng vai trò chủ chốt trong ổn định tiền tệ và ổn định tài chính, là điều kiện tiên quyết để ổn định kinh tế vĩ mô, tăng trưởng bền vững và phải được đảm bảo bằng sự phối hợp đồng bộ, hiệu quả giữa chính sách tiền tệ với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác, cùng sự phát triển hài hòa, cân đối giữa khu vực ngân hàng, chứng khoán và bảo hiểm…

    Chiến lược cũng đề ra những mục tiêu cụ thể với các giải pháp và lộ trình thực hiện cho từng giai đoạn, kỳ vọng mở ra thời kỳ mới của ngành ngân hàng.

     Phó thống đốc ngân hàng Nhà nước Nguyễn Kim Anh.
    Phó thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Kim Anh.

    Phó Thống đốc có thể cho biết những mục tiêu chính đối với Ngân hàng Nhà nước tại Chiến lược phát triển ngành ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030?

    Xuất phát từ việc đánh giá sâu sắc thực trạng của ngành ngân hàng trong gần hai thập kỷ qua, cũng như nhận định cơ hội, thách thức của bối cảnh kinh tế - xã hội trong và ngoài nước 10 năm tới, đứng trên quan điểm phát triển ngành đã được xác định, mục tiêu tổng quát phát triển ngành ngân hàng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 được đề cập theo hai cấp độ, phù hợp với tính chất và chức năng hoạt động về mặt thể chế.

    Đó là hiện đại hóa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam theo hướng: có mô hình tổ chức hợp lý và cơ chế vận hành đồng bộ, hiệu lực và hiệu quả, phù hợp với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có đầy đủ vị thế pháp lý và trách nhiệm giải trình; trong đó, ba trụ cột cơ bản trong quản lý nhà nước của Ngân hàng Nhà nước cũng được định hướng rõ nét.

    Đối với Ngân hàng Nhà nước, chiến lược đặt ra mục tiêu tổng quát là hiện đại hóa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam theo hướng: có mô hình tổ chức hợp lý và cơ chế vận hành đồng bộ, hiệu lực và hiệu quả, phù hợp với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có đầy đủ vị thế pháp lý và trách nhiệm giải trình; thực hiện mục tiêu ưu tiên là kiểm soát lạm phát, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng bền vững; đảm bảo an toàn, lành mạnh hệ thống các tổ chức tín dụng, giữ vai trò chủ chốt bảo đảm ổn định tài chính; thực thi vai trò giám sát hệ thống thanh toán, là trung tâm thanh toán và quyết toán cho các hệ thống thanh toán và hệ thống giao dịch tài chính, tiền tệ trong nền kinh tế.

    Đồng thời, chiến lược cũng đặt ra các mục tiêu cụ thể: tăng dần tính độc lập, chủ động và trách nhiệm giải trình của Ngân hàng Nhà nước về mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ, kiểm soát lạm phát ở mức phù hợp với định hướng phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kỳ, hỗ trợ ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy mục tiêu tăng trưởng kinh tế bền vững.

    Giảm dần tỷ lệ tín dụng ngoại tệ/tổng tín dụng, phấn đấu tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ/tổng phương tiện thanh toán đạt mức dưới 7,5% vào năm 2020 và mức 5% vào năm 2030; tiền tới ngừng cho vay ngoại tệ để chậm nhất đến năm 2030 cơ bản khắc phục tình trạng đô la hóa trong nền kinh tế.

    Tăng cường năng lực thể chế, hiệu lực, hiệu quả thanh tra, giám sát ngân hàng của Ngân hàng Nhà nước; mở rộng phạm vi thanh tra, giám sát đến các tập đoàn tài chính dưới hình thức công ty mẹ - con, trong đó, công ty mẹ là tổ chức tín dụng; đến cuối năm 2025, thanh tra, giám sát ngân hàng tuân thủ phần lớn các nguyên tắc giám sát ngân hàng hiệu quả theo Basel.

    Đẩy mạnh phát triển thanh toán không dùng tiền mặt, tối ưu hóa mạng lưới ATM và POS. Đến cuối năm 2020, tỷ trọng tiền mặt trên tổng phương tiện thanh toán ở dưới mức 10%; đến cuối năm 2025, con số này rút xuống còn 8%.

    Tăng số lượng doanh nghiệp và người dân tiếp cận với các dịch vụ tài chính, ngân hàng do các tổ chức tín dụng cung ứng. Tập trung phát triển các loại hình dịch vụ phù hợp phục vụ các nhóm dân cư chưa hoặc ít được tiếp cận với dịch vụ ngân hàng truyền thống ở vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn. 

    Còn đối với hệ thống các tổ chức tín dụng, các mục tiêu của chiến lược cụ thể như thế nào, thưa ông?

    Đối với hệ thống các tổ chức tín dụng, chiến lược đề ra mục tiêu phát triển hệ thống các tổ chức tín dụng hoạt động minh bạch, cạnh tranh, an toàn, hiệu quả bền vững; cấu trúc đa dạng về sở hữu, quy mô, loại hình; dựa trên nền tảng công nghệ, quản trị ngân hàng tiến tiến, phù hợp với chuẩn mực hoạt động theo thông lệ quốc tế, hướng tới đạt trình độ phát triển của nhóm 4 nước dẫn đầu khu vực ASEAN vào năm 2025; thích ứng với quá trình tự do hóa và toàn cầu hóa; đáp ứng nhu cầu về dịch vụ tài chính, ngân hàng ngày càng gia tăng của nền kinh tế, tiến tới tài chính toàn diện vào năm 2030, đảm bảo mọi người dân và doanh nghiệp có cơ hội tiếp cận đầy đủ, thuận tiện với các dịch vụ tài chính - ngân hàng có chất lượng, đóng góp tích cực cho phát triển bền vững.

    Cụ thể, phát triển hệ thống các tổ chức tín dụng phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và thực trạng của hệ thống qua từng giai đoạn.

    Giai đoạn 2018 - 2020 tiếp tục cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với trọng tâm là xử lý căn bản, triệt để nợ xấu và các tổ chức tín dụng yếu kém bằng các hình thức phù hợp theo cơ chế thị trường trên nguyên tắc thận trọng, bảo đảm quyền lợi người gửi tiền và giữ vững sự ổn định, an toàn hệ thống; tiếp tục lành mạnh hóa tình hình tài chính, nâng cao năng lực quản trị của các tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật và thông lệ quốc tế.

    Phấn đấu đến năm 2020, các ngân hàng thương mại cơ bản có mức vốn tự có theo chuẩn mực Basel II; có ít nhất từ 1 - 2 ngân hàng thương mại nằm trong nhóm 100 ngân hàng lớn nhất về tổng tài sản trong khu vực châu Á. Đưa tỷ lệ nợ xấu nội bảng của tổ chức tín dụng, nợ xấu đã bán cho VAMC và nợ đã thực hiện các biện pháp phân loại nợ xuống dưới 3% (không bao gồm các ngân hàng thương mại yếu kém đã được Chính phủ phê duyệt phương án xử lý).

    Giai đoạn 2021 - 2025: Nâng cao hơn nữa năng lực cạnh tranh, tăng sự minh bạch và tuân thủ các chuẩn mực, thông lệ quốc tế tốt trong quản trị và trong hoạt động của các tổ chức tín dụng. Phần đấu đến cuối năm 2025 có ít nhất từ 2 - 3 ngân hàng thương mại nằm trong Top 100 ngân hàng lớn nhất (về tổng tài sản) trong khu vực châu Á.

    Tất cả các ngân hàng thương mại áp dụng Basel II theo phương pháp tiêu chuẩn, triển khai thí điểm Basel II theo phương pháp nâng cao tại ngân hàng thương mại nhà nước nắm cổ phẩn chi phối và ngân hàng thương mại cổ phần có chất lượng quản trị tốt đã hoàn thành áp dụng Basel II theo phương pháp tiêu chuẩn.

    Tăng tỷ trọng thu nhập từ hoạt động dịch vụ phi tín dụng trong tổng thu nhập của các ngân hàng thương mại lên khoảng 16 - 17%.

    Tăng hiệu quả phân bổ nguồn vốn tín dụng phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội; thúc đẩy phát triển “tín dụng xanh”, “ngân hàng xanh” để góp phần chuyển đổi nền kinh tế sang hướng tăng trưởng xanh; tăng tỷ trọng tín dụng ngân hàng đầu tư vào năng lượng tái tạo, năng lượng sạch. Lồng ghép các nội dung về phát triển bền vững, biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh trong các chương trình, dự án vay vốn tín dụng.

    Từng bước nâng cao vị thế của Việt Nam tại các diễn đàn, tổ chức quốc tế về tiền tệ ngân hàng, phục vụ cho phát triển ngành ngân hàng, phù hợp với yêu cầu hội nhập quốc tế. 

    Mục tiêu ngân hàng Nhà nước đưa ra, phấn đấu đến năm 2020 có ít nhất từ 1 - 2 ngân hàng thương mại nằm trong nhóm 100 ngân hàng lớn nhất về tổng tài sản trong khu vực châu Á
    Mục tiêu Ngân hàng Nhà nước đưa ra, phấn đấu đến năm 2020 có ít nhất từ 1 - 2 ngân hàng thương mại nằm trong nhóm 100 ngân hàng lớn nhất về tổng tài sản trong khu vực châu Á

    Dựa trên những cơ sở nào để ngành ngân hàng xây dựng mục tiêu phát triển dài hạn, cụ thể như vậy?

    Chiến lược được xây dựng để chuẩn bị cho thời kỳ phát triển tiếp theo của ngành ngân hàng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, dựa trên cơ sở từ thực tiễn Việt Nam, cũng như có học hỏi kinh nghiệm các nước.

    Về thực tiễn, đảm bảo sự kế thừa có chọn lọc những mục tiêu, định hướng và nhiệm vụ đặt ra cho ngành ngân hàng trong giai đoạn 2006 - 2010 và 2011 - 2015, gắn với các đề án quan trọng đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

    Giai đoạn 2018 - 2020 tiếp tục cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với trọng tâm là xử lý căn bản, triệt để nợ xấu và các tổ chức tín dụng yếu kém, nâng cao năng lực quản trị của các tổ chức tín dụng.

    Cơ sở thực tiễn cũng bao gồm việc phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động ngành ngân hàng giai đoạn 10 năm (2006 - 2016) gắn với việc tổng kết quá trình triển khai thực hiện các nhiệm vụ do Đảng, Nhà nước, Chính phủ giao cho ngành ngân hàng và các đánh giá, nhận diện bối cảnh kinh tế - xã hội trong nước và quốc tế, những xu hướng chủ yếu có thể tác động đến nền kinh tế Việt Nam nói chung và ngành ngân hàng nói riêng như xu hướng toàn cầu hóa, xu hướng phổ cập tài chính, xu hướng phát triển của khoa học công nghệ, đặc biệt là sự bùng nổ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4.

    Về cơ sở pháp lý, bao gồm các yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra cho ngành ngân hàng tại các chương trình hành động của Chính phủ, nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, các chiến lược, đề án đã được Chính phủ phê duyệt.

    Đặc biệt, chiến lược phát triển ngành ngân hàng nhấn mạnh việc bảo đảm sự nhất quán với hành lang pháp lý trong hoạt động tiền tệ, ngân hàng như hành lang pháp lý cho việc điều hành chính sách tiền tệ và tỷ giá; quản lý ngoại hối và thị trường vàng; hoạt động thanh tra, giám sát hệ thống các tổ chức tín dụng; hoạt động thanh toán; hoạt động tín dụng… Đồng thời, bảo đảm việc tuân thủ và áp dụng các thông lệ và chuẩn mực quốc tế trong hoạt động điều hành của Ngân hàng Nhà nước và hoạt động của các tổ chức tín dụng.

    Hiện nay, Ngân hàng Nhà nước đang xây dựng chương trình hành động của ngành ngân hàng thực hiện chiến lược, trong đó có kế hoạch giám sát thực hiện chiến lược, dự kiến sơ kết đánh giá ở cuối mỗi giai đoạn của chiến lược và chỉnh sửa các nội dung của chiến lược nếu cần thiết để phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội và khả năng đạt được các mục tiêu đề ra nhằm đảm bảo tính khả thi cao. 

    Phó Thống đốc có thể cho biết giải pháp chủ yếu cũng như lộ trình thực hiện chiến lược?

    Để hiện thực hóa các mục tiêu đã đặt ra, chiến lược chỉ rõ ngành ngân hàng cần thực hiện đồng bộ 11 nhóm nhiệm vụ, giải pháp.

    Theo đó, chúng ta cần tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về tiền tệ, ngân hàng trên cơ sở tuân thủ đầy đủ các quy luật của kinh tế thị trường, phù hợp với thông lệ quốc tế và đáp ứng yêu cầu hội nhập. Tăng cường năng lực, nâng cao vị thế, tính tự chủ và trách nhiệm giải trình của Ngân hàng Nhà nước. Đổi mới khuôn khổ chính sách tiền tệ, quản lý ngoại hối và vàng. Phát triển, quản lý và giám sát các hệ thống thanh toán quan trọng trong nền kinh tế.

    Tăng cường hiệu lực, hiệu quả hệ thống thanh tra, giám sát ngân hàng, phù hợp với thông lệ và chuẩn mực quốc tế. Phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng hiện đại, tạo cơ sở nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng. Phát triển hệ thống các tổ chức tín dụng đủ năng lực cạnh tranh trên thị trường nội địa, từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế.

    Hoàn thiện mô hình các tổ chức tài chính khác hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng. Tăng cường ứng dụng, phát triển khoa học công nghệ và phát triển nguồn nhân lực của ngành ngân hàng. Tăng cường hợp tác quốc tế và đẩy mạnh tiến trình hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng. Đồng thời, tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác truyền thông của Ngân hàng Nhà nước.

    Theo đó, chiến lược được phân chia ra 3 giai đoạn để thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp nói trên: giai đoạn 2018 - 2020. giai đoạn 2021 - 2025 và giai đoạn 2026 - 2030. Sẽ có một số dự án, chiến lược bộ phận, đề án quan trọng cần triển khai ứng với mỗi giai đoạn cụ thể. Chương trình hành động của ngành ngân hàng thực hiện chiến lược cũng sẽ chi tiết phân công nhiệm vụ và thời hạn hoàn thành để thực hiện từng nhiệm vụ, giải pháp đã đề ra. 

    Đây là một chiến lược dài hạn với những mục tiêu lớn, ngành ngân hàng cần có sự phối hợp, hỗ trợ ra sao từ phía Chính phủ, cũng như các bộ, ngành liên quan?

    Chiến lược đã bao hàm tất cả các lĩnh vực của ngành ngân hàng, từ hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng đến hoạt động quản lý nhà nước của Ngân hàng Nhà nước với hàng loạt mục tiêu và các nhóm giải pháp được đặt ra.

    Để có thể thực hiện một cách đầy đủ, đồng bộ các giải pháp nhằm thực hiện thành công các mục tiêu, cần có sự chỉ đạo, hỗ trợ từ Chính phủ cũng như sự đồng thuận, phối hợp của các bộ, ngành và chính quyền địa phương các cấp. Theo đó, chiến lược đã có một mục riêng quy định trách nhiệm đầu mối hoặc phối hợp của một số bộ, ngành liên quan trong việc tổ chức thực hiện, triển khai.

    Hồng Dung (Tinnhanhchungkhoan.vn)

    Số hóa ngân hàng, khách hàng hưởng lợi

    InfoMoneyChính thức xuất hiện tại Việt Nam năm 2004, dịch vụ ngân hàng điện tử (eBanking) ngày càng trở nên phổ biến. Tuy nhiên, 3 năm trở lại đây, dịch vụ ngân hàng số (Digital Banking) với những tiện ích hiện đại đã khiến khách hàng hài lòng hơn.

    Nếu như cách nay vài năm, khi chuyển tiền, kiểm tra số dư sổ tiết kiệm, nhận lãi tiền gửi hoặc đóng lãi cho các khoản vay vốn đều phải đến ngân hàng giao dịch, thì giờ đây có thể ngồi ở nhà thực hiện mọi việc một cách dễ dàng, nhanh chóng, tiện lợi chỉ với chiếc điện thoại di động thông minh (smartphone).

    Nếu như cách nay 15 năm, việc giao dịch với ngân hàng bằng smartphone có vẻ như chỉ có trong trí tưởng tượng của mọi người và được cho là viển vông, thì thực tế những năm gần đây cho thấy mọi thứ đã thay đổi với tốc độ chóng mặt, đặc biệt trong kỷ nguyên số hiện nay.

    Kể từ khi chính thức xuất hiện ở Việt Nam vào năm 2004, dịch vụ ngân hàng điện tử (eBanking, gồm Internet Banking và SMS Banking) đã ngày càng trở nên phổ biến, các ngân hàng đua nhau cải tiến công nghệ và nâng cấp các tiện ích, đem lại sự thích thú, tiện lợi cho khách hàng và rất được ưa chuộng.

    Tuy nhiên, khi cuộc chơi eBanking còn chưa đến hồi kết thì trong 3 năm trở lại đây, các ngân hàng đã bước vào cuộc chơi mới có tên ngân hàng số (Digital Banking). Theo đó, tất cả các hoạt động và dịch vụ ngân hàng truyền thống sẽ được số hóa hoàn toàn, khách hàng chỉ cần sử dụng thiết bị di động kết nối mạng là có thể làm được mọi thứ mọi lúc mọi nơi, từ những dịch vụ thiết yếu như rút tiền, chuyển tiền, gửi tiết kiệm, quản lý tài khoản cho đến vay tiền, thanh toán trực tuyến và sử dụng các dịch vụ tiện ích khác.

    Trong thời đại công nghệ số, Việt Nam rõ ràng là mảnh đất màu mỡ cho các mô hình kinh doanh mới mẻ như ngân hàng số phát triển vì tỷ lệ người Việt sử dụng internet và smartphone gia tăng rất nhanh. Theo báo cáo năm 2018 của Tổ chức We are social, Việt Nam có 64 triệu người dùng internet, chiếm 67% dân số; và có 70,03 triệu người dùng điện thoại di động, chiếm 74% dân số.

    Tuy nhiên, hiện Việt Nam được xếp vào nhóm quốc gia có mức độ tiếp cận các dịch vụ tài chính còn ở mức thấp, với tỷ lệ người trưởng thành có tài khoản ngân hàng chỉ là 30,8%, thấp hơn rất nhiều nước trong khu vực, nên còn nhiều tiềm năng tăng trưởng và là cơ hội béo bở cho những "tay chơi" tham gia lần đầu tiên vào lĩnh vực mới mẻ này.

    Ngoài ra, những đề án thanh toán không dùng tiền mặt, yêu cầu minh bạch, công khai các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng, hay chiến lược phát triển tài chính toàn diện của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước sẽ là các yếu tố, cam kết hỗ trợ về mặt định hướng và môi trường cho các chiến lược số hóa ngân hàng.

    Bên cạnh đó, việc xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu dân cư quốc gia do Bộ Công an chủ trì thời gian qua cũng góp phần giúp việc phát triển ngân hàng số thuận lợi hơn. Đặc biệt, trong tình hình các mạng lưới ngân hàng truyền thống chưa phát triển mạnh ở địa bàn nông thôn, thì ngân hàng số có thể là con đường phù hợp để nhanh chóng đạt được kết quả theo các mục tiêu mà các đề án đặt ra.

    Về phía ngân hàng, mặc dù chi phí đầu tư cho công nghệ ban đầu có thể tốn kém, nhưng lợi ích về lâu dài là sẽ tiết kiệm được rất nhiều về mặt thời gian, tài chính, cơ sở vật chất, nguồn nhân lực, khi các dịch vụ, thủ tục giấy tờ hành chính sẽ được số hóa và giảm thiểu tối đa. Các mạng lưới phân phối truyền thống như chi nhánh, phòng giao dịch hay ATM sẽ không còn đặc biệt quan trọng trong chiến lược kinh doanh nên có thể bị thu hẹp dần, thay vào đó các ngân hàng sẽ tập trung nguồn lực để đẩy mạnh các kênh giao dịch phi vật lý nhằm mang lại những trải nghiệm nhanh nhất và tốt nhất cho khách hàng.

    Trong bối cảnh hành vi và nhu cầu của người tiêu dùng "siêu kết nối" ngày nay đang thay đổi từng ngày, họ không chỉ muốn tự khẳng định bản thân mà còn nhanh chóng cập nhật công nghệ, ứng dụng mới, thì những mô hình kinh doanh tự phục vụ sẽ ngày càng phổ biến. Do đó, nếu các ngân hàng không nhanh chóng thay đổi, sẽ không tránh khỏi bị đào thải.

    Và với xu hướng phát triển gần đây, chỉ trong thời gian ngắn nữa, các loại thẻ ngân hàng sẽ dần biến mất, thay vào đó mỗi chiếc smartphone sẽ như một chiếc thẻ tín dụng mà khách hàng có thể "quẹt" để thanh toán khi sử dụng các dịch vụ giải trí, mua sắm hàng hóa... mọi lúc mọi nơi.

    Thực tế gần đây, ngày càng xuất hiện nhiều loại hình thanh toán trên nền tảng di động (mobile pay), mang lại nhiều tiện ích cho khách hàng, thế nên ngân hàng nào không bắt kịp xu hướng sẽ bị tụt hậu và dần để mất khách hàng vào tay các công ty công nghệ cung cấp những ứng dụng, nền tảng giao dịch, thanh toán mới đầy tiềm năng và có sức thu hút.

    Trong tương lai, các ngân hàng cũng phải luôn tự làm mới mình, thay vì chờ đợi khách hàng đến giao dịch, hoặc ra sức tìm kiếm, phát triển khách hàng bằng những phương pháp truyền thống và tốn nhiều nguồn lực, thì ngay bây giờ cần nhanh chóng thay đổi công nghệ quản lý, chiến lược kinh doanh và tận dụng công nghệ số để tương tác, phát triển khách hàng, cung cấp và bán sản phẩm, thậm chí thẩm định khách hàng qua các mạng xã hội, các nền tảng ứng dụng trực tuyến trên điện thoại và dữ liệu lớn (big data).

    Thật tuyệt vời khi một ngày nào đó, bạn đặt vé trực tuyến đi du lịch, ngân hàng hoặc một công ty tài chính sẽ ngay lập tức biết được và đề nghị cung cấp cho bạn một khoản tín dụng và bảo hiểm du lịch với mức phí đã được thỏa thuận trước. Hoặc khi bạn vừa được lên chức, nâng lương, thông tin cũng nhanh chóng được cập nhật và hạn mức tín dụng của bạn cũng tự động được nâng lên.

    Rồi khi bạn đi mua sắm, thanh toán trực tuyến, ngân hàng cũng sẽ cung cấp hạn mức tín dụng theo yêu cầu, và điểm tín dụng của bạn luôn được tự động đánh giá, cập nhật thường xuyên trong hệ thống quản lý của ngân hàng. Đó được gọi là cung cấp, thỏa mãn, đáp ứng đúng thời điểm, đúng nhu cầu và đúng chỗ. Với một ngân hàng thông minh như thế, rõ ràng khách hàng sẽ nhận được rất nhiều lợi ích và luôn có cảm giác hài lòng, thỏa mãn với các dịch vụ tài chính hiện đại.

    Khi đó họ sẽ thấy rõ nhược điểm của các hình thức giao dịch lỗi thời trước đây, chẳng hạn như phải đến trụ sở ngân hàng để thực hiện thủ tục rắc rối nào đó, cung cấp chữ ký mẫu, giới thiệu người bảo lãnh, làm hồ sơ vay vốn phức tạp, nhiêu khê mà còn luôn e ngại rủi ro bẫy lãi suất, chưa hiểu rõ các điều khoản hợp đồng, hoặc thậm chí phải chi hoa hồng để được vay vốn...

    Anh Khoa (DNSG)

    Dự báo giá vàng 2019: Tràn đầy hy vọng

    InfoMoneySau một năm 2018 không mấy thuận lợi, thị trường vàng đang tìm cách phục hồi và đi lên trong năm 2019.
    Trở ngại lớn nhất đối với giá vàng trong năm 2018 chính là việc đồng USD mạnh lên thu hút sự chú ý của giới đầu tư. Ảnh minh họa: TTXVN
    Trở ngại lớn nhất đối với giá vàng trong năm 2018 chính là việc đồng USD mạnh lên thu hút sự chú ý của giới đầu tư. Ảnh minh họa: TTXVN

    Các nhận định mới đây của giới phân tích cho thấy điều này hoàn toàn khả thi khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đang cân nhắc việc tạm dừng lộ trình tăng lãi suất – một yếu tố nhiều khả năng sẽ ủng hộ giá vàng.

    Khởi đầu năm 2019 vững chắc hơn

    Giá vàng bắt đầu năm 2018 khá tích cực sau khi đã tăng 13,5% trong năm 2017. Các nhà quan sát cho rằng giá vàng hoàn toàn có thể đạt mức 1.400 USD/ounce và thậm chí 1.500 USD/ounce trong năm 2018 nhờ những yếu tố thuận lợi như đồng USD yếu, thị trường chứng khoán Mỹ giảm điểm, căng thẳng địa chính trị leo thang.

    Tuy nhiên, từ mức cao 1.365,2 USD/ounce hồi giữa tháng 4/2018, giá vàng đã để mất tới 15% và rơi xuống mức thấp nhất của một năm rưỡi là 1,159,96 USD/ounce ghi nhận vào tháng 8/2018. Giá vàng hiện đã phục hồi lên trên mức 1.300 USD/ounce, nhưng vẫn cách khá xa con số kỷ lục trước đó.

    Trở ngại lớn nhất đối với giá vàng trong năm 2018 chính là việc đồng USD mạnh lên thu hút sự chú ý của giới đầu tư. Người đứng đầu mảng nghiên cứu thị trường của công ty môi giới đầu tư Pepper Pepperston, ông Chris Weston cho biết trong phần lớn thời gian của năm 2018, việc đồng "bạc xanh" mạnh đã chi phối những diễn biến trên thị trường.

    Đã có những biến động xảy ra – vốn rất thuận lợi cho giá vàng - nhưng đồng USD vẫn đứng vững và không xảy ra tình trạng bán tháo.

    Tuy nhiên, chuyên gia này cho biết tin tốt cho giá vàng là mọi thứ sẽ rất khác trong năm 2019. Một yếu tố lớn tác động lên những diễn biến của đồng USD trong tương lai là việc Fed sẽ mạnh tay hay ôn hòa hơn về tiến trình tăng lãi suất. Trước mắt, những giọng điệu của ngân hàng trung ương này có vẻ đang thiên về hướng ôn hòa.

    Vào ngày 30/1, Fed thông báo giữ nguyên lãi suất do nhiều yếu tố không thuận lợi, đồng thời phát đi những tín hiệu về khả năng chương trình thắt chặt chính sách tiền tệ của họ có thể sẽ chấm dứt sớm. Sau khi thông báo giữ nguyên lãi suất, Fed cũng đã gạt bỏ cam kết "tăng lãi suất từ từ" và nói rằng sẽ "kiên nhẫn" trước khi đưa ra thêm bất kỳ động thái nào.

    Fed cũng cho hay nếu không có những mối đe dọa từ lạm phát tăng cao hoặc động thái tài chính gây nhiều rủi ro, việc tạm dừng nâng lãi suất này có thể sẽ kéo dài. Lãi suất hiện tại của Fed ở trong khoảng từ 2,25% đến 2,5%, vẫn thấp hơn nhiều so với mức trung bình trong lịch sử.

    Vàng có xu hướng lên giá trước khả năng lãi suất thấp hơn, khi nó làm giảm chi phí cơ hội cho việc nắm giữ tài sản an toàn như vàng và khiến nhu cầu với đồng USD giảm, từ đó giúp những người mua vàng bằng các đồng tiền khác mua được với giá rẻ hơn. Nếu Fed vẫn giữ thái độ “chờ đợi và cân nhắc”, đồng USD sẽ khó duy trì được động lực tăng và vàng sẽ “lấp lánh” trở lại với các nhà đầu tư.

    Triển vọng lạc quan cho giá vàng

    Trong khi dự đoán của các nhà phân tích vẫn có sự khác biệt, phần lớn các đánh giá đều cho rằng triển vọng của giá vàng sẽ tươi sáng hơn trong năm 2019.

    Chuyên gia Weston cho rằng vàng có nhiều triển vọng là kênh đầu tư tốt nhất trong năm nay, khi đồng nội tệ của những nền kinh tế lớn không mấy hấp dẫn cũng như không có gì thực sự nổi bật để trở thành một kênh “trú ẩn an toàn” cho giới đầu tư.

    Trong kịch bản lạc quan nhất, chuyên gia của Pepperston dự báo giá vàng có thể tăng lên tới 1.500 USD/ounce vào năm 2019. Trong trường hợp thị trường ở chiều giá xuống (bear market), kim loại quý này sẽ nằm trong khoảng từ 1.200 USD đến 1.250 USD/ounce.

    Trong khi đó, chuyên gia Cameron Alexander thuộc công ty chuyên tư vấn thị trường Refinitiv nhận định năm 2019 sẽ chứng kiến sự suy yếu của nền kinh tế Mỹ, sự giảm tốc của thị trường chứng khoán, cùng với những rủi ro địa chính trị vẫn tồn tại.

    Thị trường chứng khoán đã trải qua một giai đoạn tăng trưởng “nóng” và rất khó để có thể tiếp tục tiếp tục đi lên với tốc độ đó. Nhiều khả năng nhà đầu tư sẽ tỏ ra cẩn trọng và và ít muốn mạo hiểm hơn, qua đó bắt đầu chuyển hướng sang các kênh đầu tư an toàn hơn như vàng. Dự báo của Refinitiv cho giá vàng năm 2019 sẽ ở mức trung bình 1.285 USD/ounce.

    Nhà phân tích của ngân hàng Goldman Sachs, ông Jeff Currier mới đây đã đưa ra dự báo rằng giá vàng sẽ tăng do các ngân hàng trung ương đẩy mạnh hoạt động mua vàng. Ông không kỳ vọng nhiều vào sự phục hồi sớm trong đầu tư dài hạn cũng như giá của các kim loại công nghiệp khác khi nền kinh tế Trung Quốc có dấu hiệu chậm lại, nhưng chuyên gia này vẫn đặt niềm tin vào vàng.

    Goldman Sachs đã nâng mức dự báo giá vàng của họ trong giai đoạn ba, sáu và 12 tháng tiếp theo tương ứng lên lần lượt là 1.325 USD/ounce, 1.375 USD/ounce và 1.425 USD/ounce.

    Trước đó, dự báo của ngân hàng này cho các giai đoạn trên lần lượt là 1.250 USD/ounce, 1.300 USD/ounce và 1,350 USD/ounce. Dựa trên giá hiện tại của vàng, dự báo đó thể hiện mức tăng 10,7% trong 12 tháng tới.

    H.Thuỷ (TTXVN/BNEWS)

    Tín dụng tiêu dùng tăng nhanh và nguy cơ “núp bóng”

    InfoMoneyTốc độ tăng trưởng cao của mảng tín dụng tiêu dùng tiềm ẩn nhiều rủi ro, chủ trương của Ngân hàng Nhà nước là phải kiểm soát chặt chẽ hoạt động cho vay. Bên cạnh đó, ngành ngân hàng sẽ đẩy mạnh tín dụng chính thức để đẩy lùi tín dụng phi chính thức.

    Tín dụng tiêu dùng có xu hướng tăng nhanh

    Theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước chi nhánh TP.HCM, năm 2018, dư nợ của các tổ chức tín dụng trên địa bàn tăng 14,69% so với năm 2017. Ðây là mức tăng thấp nhất trong 5 năm qua. Trong khi đó, tín dụng tiêu dùng có xu hướng tăng nhanh. Cụ thể, năm 2015, dư nợ tín dụng thuộc lĩnh vực tiêu dùng chỉ chiếm 12,73% tổng dư nợ tín dụng trên địa bàn; sang năm 2016 là 82,9% và đến năm 2017 chiếm 18,36% trong tổng dư nợ tín dụng. Tín dụng tiêu dùng tiếp tục tăng trong năm 2018.

    Lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước chi nhánh TP.HCM cho rằng, cần phát huy hoạt động tín dụng tiêu dùng, song phải đảm bảo kiểm soát rủi ro, hạn chế những tồn tại phát sinh liên quan đến lãi suất, phương thức thu hồi nợ, quản lý nợ.

    Phó thống đốc Ngân hàng Nhà nước Ðào Minh Tú cho biết, tốc độ tăng tín dụng tiêu dùng như những năm qua ở TP.HCM là vấn đề cần quan tâm và kiểm soát. Trong đó, xem xét nguồn vốn vay tiêu dùng thực chất là đổ vào lĩnh vực khác, nhất là bất động sản. Trên thực tế, áp lực dành vốn cho các lĩnh vực rất lớn, chủ trương của Ngân hàng Nhà nước là đẩy vốn vào lĩnh vực sản xuất - kinh doanh, kiểm soát chặt nguồn vốn vào lĩnh vực phi sản xuất.

    Ông Tú chia sẻ, với lĩnh vực bất động sản, tháng nào Ngân hàng Nhà nước cũng nhận được vài văn bản kiến nghị của các hiệp hội, doanh nghiệp yêu cầu mở tín dụng cho thị trường này, nhưng rất khó để nới. Ngân hàng Nhà nước đang xem xét cho vay mua nhà để ở thuộc mảng cho vay tiêu dùng hay cho vay bất động sản.

    Tuy nhiên, một số ý kiến quan ngại, tín dụng tiêu dùng tăng nhanh chủ yếu đến từ hoạt động cho vay mua, sửa nhà, nên nguy cơ cho vay bất động sản đang “núp bóng” tiêu dùng ngày một lớn. Tại không ít ngân hàng, hoạt động ngân hàng bán lẻ gắn liền với tín dụng tiêu dùng và dư nợ tín dụng tiêu dùng tăng mạnh trong những năm qua.

    Ðiều này không chỉ gây rủi ro nợ xấu mà còn tác động lên lãi suất, do lãi suất cho vay tiêu dùng thường cao hơn so với tín dụng sản xuất - kinh doanh. Khi tín dụng tiêu dùng tăng sẽ kéo theo cuộc đua lãi suất huy động đầu vào, từ đó tác động lên lãi suất đầu ra. Ðáng chú ý, so với ngân hàng, lãi suất cho vay tiêu dùng tại công ty tài chính thường cao hơn nhiều, thậm chí lên đến 60 - 70%/năm. 

    Sẽ đẩy lùi tín dụng phi chính thức

    Theo các chuyên gia tài chính - tiền tệ, khi tín dụng chính thức, trong đó có tiêu dùng tăng trưởng mạnh, sẽ đẩy lùi tín dụng phi chính thức, vốn gây ra nhiều hệ lụy. Hầu hết ngân hàng đều đẩy mạnh cho vay tiêu dùng, không chỉ ở thành thị, mà còn xuống cả khu vực nông thôn. Bên cạnh đó, sự tăng trưởng không ngừng của các công ty tài chính và sự cạnh tranh gay gắt trong lĩnh vực tài chính - tiêu dùng đem lại sự thuận tiện cho người dân khi có nhu cầu vốn tiêu dùng.

    Ngân hàng Nhà nước đánh giá, khu vực nông nghiệp, nông thôn có nhu cầu vay tiêu dùng ngày càng cao, số lượng các tổ chức tín dụng mở rộng cho vay sang khu vực này ngày một tăng, kịp thời cung cấp vốn phục vụ sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản và nhu cầu vốn phục vụ phát triển nông thôn, góp phần đẩy lùi tình trạng tín dụng đen.

    Tính đến cuối tháng 11/2018, dư nợ tín dụng nông nghiệp, nông thôn ước đạt 1,69 triệu tỷ đồng, tăng 14,5% so với cuối năm 2017 (cao hơn so với mức tăng trưởng tín dụng chung của nền kinh tế), với hơn 14 triệu lượt khách hàng còn dư nợ; chiếm tỷ trọng gần 24% tổng dư nợ đối với nền kinh tế.

    Hiện có khoảng 70 tổ chức tín dụng cùng mạng lưới hơn 1.100 quỹ tín dụng nhân dân và Ngân hàng Chính sách xã hội tham gia cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn. Ðặc biệt, tại một số ngân hàng, cho vay lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn tăng mạnh và chiếm tỷ trọng cao như Agribank chiếm gần 70% (tổng dư nợ 1 triệu tỷ đồng); Ngân hàng Chính sách xã hội dành 94% nguồn vốn cho vay nông nghiệp, nông thôn, trong đó 96% cho vay hộ nghèo, hộ cận nghèo, mới thoát nghèo, học sinh, sinh viên… Tuy nhiên, để dần đẩy lùi tín dụng “đen”, ngành ngân hàng cần tiếp tục đẩy mạnh tín dụng chính thức thời gian tới.

    Trước mắt, Agribank xúc tiến gói tín dụng 5.000 tỷ đồng để hạn chế tín dụng đen, với thủ tục, hồ sơ nhanh gọn, có thể sáng vay, chiều giải ngân, nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cấp thiết và chính đáng của người dân. Bên cạnh đó, Ngân hàng Chính sách xã hội và các tổ chức tín dụng khác cần vào cuộc, nghiên cứu sản phẩm cho vay tiêu dùng, cho vay phục vụ đời sống để người dân, doanh nghiệp siêu nhỏ tiếp cận được vốn chính thức.

    Theo ông Ðào Minh Tú, khi tín dụng chính thức được đẩy mạnh sẽ đẩy lùi vấn nạn tín dụng đen. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là các ngân hàng và công ty tài chính ồ ạt cho vay tiêu dùng mà không kiểm soát được chất lượng tín dụng. Ngược lại, tín dụng tiêu dùng là loại hình tín dụng có rủi ro, cần được kiểm soát nợ xấu cũng như ngăn chặn lãi suất quá cao.

    Trên bình diện chung, ông Tú khẳng định, ngành ngân hàng vẫn đang kiểm soát được nợ xấu, nhất là chất lượng tăng trưởng tín dụng. Tăng trưởng tín dụng năm 2018 ở mức 14%, nhưng nền kinh tế vẫn tăng trưởng tốt, nên năm nay, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu tiếp tục kiểm soát tăng trưởng tín dụng ở mức này.

    TS. Cấn Văn Lực, chuyên gia tài chính - ngân hàng nhận định, tiêu dùng cá nhân hiện chiếm tới 66 - 67% GDP và có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế. Ðể phục vụ nhu cầu tiêu dùng cá nhân rất lớn này, nếu tín dụng chính thức không phát triển thì tín dụng đen sẽ có điều kiện nở rộ. Bên cạnh đó, hoạt động cho vay với lãi suất “cắt cổ” cần phải cấm đoán và kiểm soát chặt chẽ.

    Thuỳ Vinh

    Fed giữ nguyên lãi suất

    InfoMoneyQuá trình nâng lãi kéo dài 3 năm qua có thể chấm dứt khi triển vọng kinh tế Mỹ đột ngột u ám.

    Sau phiên họp chính sách kéo dài 2 ngày, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) vừa thông báo giữ nguyên lãi suất cho vay qua đêm giữa các ngân hàng Mỹ tại 2,25 – 2,5%. Cơ quan này cũng hủy bỏ cam kết trước đó rằng sẽ "nâng lãi từ từ". Thay vào đó, họ cho biết sẽ "kiên nhẫn" trước khi nâng lãi.

    Chủ tịch Fed - Jerome Powell cho biết các yếu tố cơ sở để nâng lãi "đã yếu đi" trong vài tuần gần đây. Tăng trưởng toàn cầu chậm lại, chiến tranh thương mại và sự bất đồng khiến chính phủ Mỹ phải đóng cửa đã khiến triển vọng nước này kém chắc chắn.

    Chủ tịch Cục Dự trữ liên bang Mỹ - Jerome Powell. Ảnh: Reuters
    Chủ tịch Cục Dự trữ liên bang Mỹ - Jerome Powell. Ảnh: Reuters

    "Hiện tại, chúng ta đang trong tình thế khá mâu thuẫn. Kinh tế vĩ mô ổn định, nhưng lại có nhiều thách thức khác nảy sinh. Chúng ta cần kiên nhẫn theo dõi đến khi tình hình rõ ràng hơn", Powell cho biết sau phiên họp chính sách.

    Sau thông báo của Fed, thị trường chứng khoán Mỹ đã bật tăng. S&P 500 tăng 1,5%, DJIA tăng 1,7% và mạnh nhất là Nasdaq với 2,2%.

    Cùng với đánh giá rằng quy mô bảng cân đối kế toán của Fed vẫn lớn hơn dự báo, cuộc họp tuần này có thể đặt dấu chấm hết cho quá trình bình thường hóa chính sách tiền tệ tại Mỹ sau khủng hoảng tài chính. Fed đã nâng lãi dần dần từ cuối năm 2015. Năm ngoái, họ thực hiện việc này 4 lần và dự báo có thể nâng thêm 2 lần trong năm nay.

    Lãi suất hiện tại của Fed vẫn khá thấp so với trung bình trước đây. Vì vậy, nếu không tăng lên, Fed sẽ có rất ít lựa chọn chính sách để đối phó với bất kỳ cuộc suy thoái nào sau này.

    Nhiều người cũng đặt ra câu hỏi liệu việc Fed thay đổi quan điểm có liên quan tới sức ép từ thị trường tài chính biến động hay Tổng thống Mỹ - Donald Trump hay không. Thời gian qua, ông Trump vẫn công khai chỉ trích Fed vì nâng lãi, với lý do lãi tăng sẽ kéo tụt tăng trưởng kinh tế

    Hà Thu (VnExpress/Reuters)

    [Infographic] Fed giữ nguyên lãi suất ở biên độ từ 2,25-2,5%

    InfoMoneyNgày 30/1/2019, Ngân hàng Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đã quyết định giữ nguyên lãi suất cơ bản ở biên độ từ 2,25-2,5%, đồng thời phát đi tín hiệu rằng lãi suất sẽ chưa tăng trong tương lai gần.

    Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu trong lĩnh vực vàng

    InfoMoneyNgân hàng Nhà nước đã ra Thông tư 47/2018/TT-NHNN ban hành Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu kèm theo mã HS thuộc phạm vi quản lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong lĩnh vực vàng.
    Ảnh minh họa. Nguồn: Internet
    Ảnh minh họa. Nguồn: Internet

    Thông tư quy định, Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu kèm theo mã HS thuộc phạm vi quản lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong lĩnh vực vàng là vàng nguyên liệu được mô tả cụ thể như sau:

    Vàng dưới dạng khối, thỏi, hạt, miếng và các loại vàng khác, ngoại trừ vàng dưới dạng bột, dung dịch, vẩy hàn, muối vàng và các loại vàng trang sức dưới dạng bán thành phẩm.

    Hàng hóa vàng nguyên liệu thuộc quản lý của Ngân hàng Nhà nước được áp mã HS như sau: 7108.12.10; 7108.12.90.

    Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 12/02/2019.

    Minh Hải
1 2 3 4 5 6
close

Top