...

InfoMoneyLãnh đạo nhiều ngân hàng thương mại cổ phần khẳng định, Moody’s xem xét hạ tín nhiệm 17 ngân hàng không phải dựa vào sức khỏe nhà băng. Thực tế, thanh khoản, đặc biệt là thanh khoản ngoại tệ của hệ thống ngân hàng đang ở mức tốt nhất từ trước đến nay.
Nếu khả năng Moody’s hạ bậc tín nhiệm xảy ra, ảnh hưởng lớn nhất là các ngân hàng sẽ phải huy động vốn với lãi suất cao hơn.
Nếu khả năng Moody’s hạ bậc tín nhiệm xảy ra, ảnh hưởng lớn nhất là các ngân hàng sẽ phải huy động vốn với lãi suất cao hơn.

Sức khỏe tốt kỷ lục vẫn có nguy cơ tụt hạng tín nhiệm

Tổ chức Xếp hạng tín nhiệm Moody’s vừa thông báo xem xét hạ tín nhiệm quốc gia với các khoản vay bằng nội tệ và ngoại tệ của Chính phủ Việt Nam (hiện là Ba3), với lý do chậm thanh toán nghĩa vụ nợ Chính phủ. Bị liên đới, 17 ngân hàng Việt cũng bị Moody’s xem xét hạ tín nhiệm.

Liên quan đến vấn đề này, lãnh đạo các ngân hàng thương mại đều khẳng định, thực tế, Moody’s vẫn đánh giá cao sức khỏe của hệ thống ngân hàng Việt. Việc xem xét hạ tín nhiệm ngân hàng, doanh nghiệp hoàn toàn là do ảnh hưởng bởi hạ tín nhiệm quốc gia.  

“Như Vietcombank, hạn mức tín nhiệm đang ở mức tối đa, tức ngang bằng tín nhiệm quốc gia. Vậy nên, nếu tín nhiệm quốc gia bị hạ, thì tín nhiệm của Vietcombank cũng sẽ bị hạ xuống”, ông Nguyễn Thanh Tùng, Phó tổng giám đốc Vietcombank cho hay.

Trao đổi với phóng viên Báo Đầu tư, ông Nguyễn Đình Tùng, Tổng giám đốc Ngân hàng OCB cũng cho hay, xếp hạng tín nhiệm của ngân hàng, doanh nghiệp bao giờ cũng bị ảnh hưởng bởi xếp hạng tín nhiệm quốc gia. Nếu xếp hạng tín nhiệm quốc gia nâng lên, thì xếp hạng tín nhiệm của doanh nghiệp cũng được nâng lên và ngược lại.

“Tôi cho rằng, quyết định của Moody’s dựa trên yếu tố kỹ thuật hơn là đánh giá về khả năng, năng lực hay triển vọng. Thực tế, năng lực thanh khoản ngoại tệ Việt Nam đã cải thiện rất mạnh và đang rất vững so với thời điểm đầu năm, cũng như những năm trước đây”, ông Tùng nhận xét.

Theo ông Tùng, hàng loạt tổ chức quốc tế như ADB, WB… thường xuyên có đánh giá về Việt Nam và đều chung nhận định này. Thanh khoản ngoại tệ của quốc gia chưa bao giờ tốt như hiện nay, biểu hiện ở dự trữ ngoại hối cao kỷ lục, vốn FDI, FII tăng mạnh, thậm chí NHNN phải tung tiền đồng ra mua bớt ngoại tệ vì đang dư cung. Dựa vào thanh khoản ngoại tệ, lẽ ra Việt Nam phải được nâng bậc chứ không phải hạ bậc.

Lãnh đạo nhiều ngân hàng cho rằng, thời gian mà Moody’s xem xét là 3 tháng, điều này cũng khá lạ. Thông thường, các đơn vị tham gia xếp hạng sẽ được Moody’s xem xét đánh giá 6 tháng một lần, song lần này, Moody’s dự định xem xét trong 3 tháng. Điều này cho thấy, có thể Moody’s cũng nhận thấy, hạ mức tín nhiệm quốc gia với Việt Nam chưa phản ánh đúng thực chất.

Ngân hàng Việt có nguy cơ chịu lãi vay cao hơn

Các chuyên gia phân tích của Công ty cổ phần Chứng khoán Yuanta Việt Nam (Yuanta Việt Nam) cho rằng, hiện Moody's chỉ xem xét, chưa phải là hạ tín nhiệm. Thực tế, hiện Việt Nam gần như không có rủi ro về khả năng thanh toán, bởi dự trữ ngoại hối dồi dào ở mức xấp xỉ 70 tỷ USD, tương đương gần 14 tuần nhập khẩu, thặng dư thương mại duy trì ở mức cao, đầu tư FDI tăng trưởng ổn định. Việc thanh toán các nghĩa vụ nợ của Việt Nam vẫn đang diễn ra bình thường…

Tuy nhiên, Yuanta Việt Nam cũng cảnh báo rằng, Moody's sẽ hạ tín nhiệm của Việt Nam, nếu quá trình điều tra xem xét kết luận khoảng trống về hành chính vẫn tồn tại và gây ra rủi ro về việc chậm trả nợ trong tương lai. Vì vậy, cảnh báo của Moody’s là động lực để Chính phủ khắc phục các vấn đề thể chế, thủ tục hành chính…

Lãnh đạo các ngân hàng thương mại, công ty chứng khoán nhận định, nếu khả năng Moody’s hạ bậc tín nhiệm xảy ra, ảnh hưởng lớn nhất là các ngân hàng sẽ phải huy động vốn với lãi suất cao hơn (rủi ro tín dụng càng cao thì nhà đầu tư sẽ đòi hỏi lãi suất càng cao).

Dù vậy, không ít lãnh đạo các ngân hàng cho rằng, ngay cả khi Moody’s hạ tín nhiệm ngân hàng do hạ tín nhiệm quốc gia, không phải nhà đầu tư nào cũng tăng lãi suất cho vay với ngân hàng Việt.

“Thời gian qua, rất nhiều nhà đầu tư, tổ chức nước ngoài tìm đến các ngân hàng Việt Nam để cho vay. Nếu Moody’s hạ tín nhiệm, quyết định có tăng lãi suất cho vay hay không phụ thuộc vào nhà đầu tư. Nếu nhà đầu tư thấy rằng, việc Moody’s hạ xếp hạng tín nhiệm là nguy hiểm cho khoản vay, họ sẽ nâng lãi suất cho vay. Còn nếu đánh giá việc hạ tín nhiệm này đơn thuần mang tính kỹ thuật, có thể họ cũng sẽ không tăng lãi suất cho vay, vì các nhà đầu tư cũng sợ mất cơ hội kinh doanh”, ông Tùng bình luận.

Công ty cổ phần Chứng khoán Bản Việt (VCSC) bình luận, các chỉ báo riêng đo lường chất lượng tín dụng của các cổ phiếu ngân hàng trong danh mục theo dõi của 2 năm qua cải thiện ổn định. Việc điều chỉnh bậc tín nhiệm, nếu diễn ra, sẽ không phản ánh hợp lý các tiến bộ mà các ngân hàng đã thực hiện được thời gian qua.

Theo Bộ Tài chính, quyết định của Moody’s “dựa trên một sự việc riêng lẻ là không phù hợp”. Khoản nợ mà Moody’s lấy cơ sở để hạ tín nhiệm Việt Nam là nợ được Chính phủ bảo lãnh, không phải là nghĩa vụ nợ trực tiếp của Chính phủ. Bộ Tài chính cho rằng, Moody's cần xác định rõ nghĩa vụ nợ dự phòng và nghĩa vụ nợ trực tiếp của Chính phủ. Việt Nam chưa bao giờ chậm trễ trong thực hiện nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ.

Các chuyên gia dự báo, trong 3 tháng tới, Việt Nam sẽ làm việc chặt chẽ với Moody's để đảm bảo hạng tín nhiệm Ba3 của mình.

“Do kinh tế tốt lên, nên ngày càng nhiều nhà đầu tư quốc tế muốn cho ngân hàng Việt Nam vay. Vì vậy, tôi cho rằng, ảnh hưởng của Moody’s xem xét hạ tín nhiệm với ngân hàng Việt Nam sẽ không nhiều. Tôi nghĩ, các ngân hàng cần quản lý thông tin tốt, giải thích thông tin đúng đắn cho người dân, nhà đầu tư”.

- Ông Nguyễn Đình Tùng, Tổng giám đốc Ngân hàng OCB

Hà Tâm
InfoMoneyHoạt động tái cơ cấu hệ thống tổ chức tín dụng đã đi qua chặng đường gần 7 năm, trong đó giai đoạn I kết thúc năm 2015 và giai đoạn II bắt đầu từ năm 2016 đến 2020. Quá trình tái cơ cấu hệ thống tổ chức tín dụng nói chung và các ngân hàng thương mại nói riêng vừa qua đã gặt hái những thành quả khá quan trọng.
Sau giai đoạn tái cơ cấu vừa qua, chất lượng tài sản của các ngân hàng được cải thiện, tỷ lệ nợ xấu đã giảm mạnh.
Sau giai đoạn tái cơ cấu vừa qua, chất lượng tài sản của các ngân hàng được cải thiện, tỷ lệ nợ xấu đã giảm mạnh.

Sức khoẻ của các ngân hàng đã tốt lên rất nhiều

Nếu năm 2012, hệ thống tổ chức tín dụng có 9 ngân hàng yếu kém, sau đó có thêm một số trường hợp nữa như OceanBank, DongABank…, thì đến nay, chỉ còn 3 ngân hàng yếu kém và DongABank cần phải tái cơ cấu mạnh mẽ. Nhiều cái tên trong quá khứ từng là “nỗi ám ảnh” với không chỉ cơ quan quản lý, mà cả thị trường, thì đến nay, cũng đã vươn mình mạnh mẽ và cho những trái ngọt như TPBank (trước là Tienphongbank), SCB (ngân hàng hợp nhất giữa 3 ngân hàng yếu kém SCB, FicomBank và TinNghiaBank), NCB (trước đây là Navibank)…

Hay những ngân hàng từng phải gánh thêm một ngân hàng yếu khiến hoạt động bị chùng xuống như BIDV gánh MHB, Sacombank với SouthernBank, thì nay cũng đã ghi đậm dấu ấn trên thị trường với các kết quả tích cực.

Ngoài ra, một số ngân hàng nhỏ tự tìm đến ngân hàng lớn để sáp nhập tự nguyện nhằm nâng cao năng lực tài chính để có vị thế vững mạnh hơn trên thị trường như DaiA Bank sáp nhập HDBank hay MDB nhập vào Maritime Bank, ACB dùng nội lực để vươn lên sau biến cố kéo dài liên quan đến các cựu lãnh đạo ngân hàng này… cũng là những thành tựu không thể phủ nhận của quá trình tái cơ cấu.

Các thành quả đạt được từ khi đẩy mạnh tái cơ cấu

Sau giai đoạn tái cơ cấu vừa qua, chất lượng tài sản của các ngân hàng được cải thiện, tỷ lệ nợ xấu đã giảm mạnh. Nếu như giai đoạn bắt đầu tái cơ cấu, tỷ lệ nợ xấu cả nội bảng lẫn ngoại bảng của toàn hệ thống ở mức hai chữ số, thì đến nay, nợ xấu đã giảm về rất sâu. Số liệu được cập nhật từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tỷ lệ nợ xấu nội bảng của toàn hệ thống tổ chức tín dụng chỉ còn 1,94% - mức rất thấp và thấp hơn nhiều so với mức 3% mục tiêu đề ra; còn nếu tính cả nợ xấu nội bảng lẫn nợ đã bán cho Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC), nợ tiềm ẩn…, thì tổng nợ xấu cũng chỉ hơn 5% một chút.

Nợ xấu giảm mạnh một phần do các ngân hàng nỗ lực xử lý, một phần khác nhờ VAMC và đặc biệt là Nghị quyết 42/QH14 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu. Nhưng phần quan trọng hơn cả, kết quả này có được nhờ quyết tâm cao của Ngân hàng Nhà nước và toàn ngành ngân hàng, đưa hình ảnh của các tổ chức tín dụng tại Việt Nam trở nên đẹp hơn trong mắt nhà đầu tư và thị trường.

Sau quá trình tái cơ cấu vừa qua, năng lực quản trị rủi ro của các ngân hàng đã được nâng cao. Hiện đã có 11 ngân hàng đạt tiêu chuẩn Basel II là Vietcombank, ACB, MB, Techcombank, VPBank, HDBank, VIB, MSB, OCB và TPBank.

Cùng với đó, môi trường kinh doanh ngân hàng được lành mạnh hóa. Kỷ cương, kỷ luật trên thị trường tiền tệ, thị trường vàng và lĩnh vực ngân hàng được chấn chỉnh và nâng cao, góp phần ổn định, bảo đảm an ninh tài chính - tiền tệ. Cụ thể, thị trường vàng đã được quản lý bằng Nghị định số 24/2012/NĐ-CP và không còn hiện tượng đầu cơ vàng, tình trạng đô la hoá, vàng hoá nền kinh tế được đẩy lùi.

Khuôn khổ pháp lý về tiền tệ, hoạt động ngân hàng được hoàn thiện một bước quan trọng. Những năm qua, nhờ công tác thanh tra, giám sát được tăng cường, nên Ngân hàng Nhà nước chủ động phát hiện, xử lý và triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp cơ cấu lại nhằm xử lý những tồn tại, yếu kém cố hữu và vi phạm pháp luật của các tổ chức tín dụng, trong đó ưu tiên áp dụng các biện pháp kinh tế để khắc phục hậu quả, thu hồi triệt để tài sản cho ngân hàng. Với quyết tâm của toàn ngành, nhiều vụ án lớn trong lĩnh vực ngân hàng được đưa ra xét xử nghiêm minh, đủ sức răn đe, các mối quan hệ sở hữu chéo giữa các ngân hàng cũng được xử lý gần như dứt điểm.

Tín hiệu tích cực của giai đoạn tiếp theo

Theo Đề án Tái cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016-2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1058/QĐ-TTg năm 2017, một trong các mục tiêu toàn ngành hướng tới là tiếp tục tái cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với trọng tâm là xử lý căn bản, triệt để nợ xấu và các tổ chức tín dụng yếu kém bằng các hình thức phù hợp với cơ chế thị trường trên nguyên tắc thận trọng, bảo đảm quyền lợi của người gửi tiền và giữ vững sự ổn định, an toàn hệ thống; giảm số lượng tổ chức tín dụng yếu kém để có số lượng các tổ chức tín dụng phù hợp, có quy mô và uy tín, hoạt động lành mạnh, bảo đảm tính thanh khoản.

Trong hơn 3 năm thực hiện vừa qua, hệ thống ngân hàng đã đón nhận thêm nhiều trái ngọt hơn nữa của hoạt động tái cơ cấu. Đó là sự hồi sinh đang hiện rõ ở Sacombank, những cú bứt phá mạnh mẽ của ACB sau biến cố kéo dài, những cây cho trái ngọt như TPBank đã thay da đổi thịt.

Nếu năm 2020 là năm cuối của chặng đường tái cơ cấu giai đoạn II, thì năm 2019 được đánh giá là năm bản lề để mở ra những bứt phá mới trong hoạt động tái cơ cấu đối với 3 ngân hàng yếu kém, đã thu hút được sự chú ý của một số nhà đầu tư. Có thể kể đến vài cái tên như Tập đoàn J. Trust của Nhật Bản (để ý tới CBBank), Maruhan cũng của Nhật Bản quan tâm OceanBank; các tập đoàn như Srisawad Corporation (Thái Lan), Clermont (Singapore)… cũng bày tỏ ý định tham gia tái cơ cấu ngân hàng yếu kém Việt Nam.

Ngoài việc tái cơ cấu các ngân hàng yếu kém, hoạt động tái cơ cấu giai đoạn II còn được thực hiện đồng loạt tại tất cả các ngân hàng khác. Bởi vậy, theo đánh giá của giới phân tích, nếu các phương án trên được hiện thực hoá, thì tương lai hoạt động tái cơ cấu hệ thống tổ chức tín dụng năm 2020 sẽ còn thêm nhiều điểm sáng hơn.

Một tương lai của ngành ngân hàng Việt Nam với 1-2 ngân hàng tầm cỡ khu vực; 15 - 20 ngân hàng đáp ứng chuẩn Basel II, sức khoẻ tài chính toàn hệ thống được đảm bảo và nợ xấu ở mức dưới 3% đang nằm trong tầm tay.

Vươn mình mạnh mẽ

Tính đến năm 2019, toàn hệ thống ngân hàng đã có 11 nhà băng ghi nhận tổng tài sản trên 10 tỷ USD, tức hơn 230.000 tỷ đồng, trong đó có 4 ngân hàng thương mại nhà nước ghi nhận tổng tài sản trên 1 triệu tỷ đồng. Cũng trong năm nay, 19 đại diện của Việt Nam đã lọt vào top 500 ngân hàng lớn mạnh nhất khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trong đó nhóm dẫn đầu của Việt Nam bao gồm Vietcombank, VietinBank, MB, Techcombank, BIDV, HDBank, ACB, Agribank…

Vân Linh
InfoMoneyTại Hội nghị kết nối Ngân hàng - Doanh nghiệp vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ diễn ra ngày 11/10, Phó Thống đốc NHNN Đào Minh Tú khẳng định, ngành ngân hàng đang đẩy mạnh khơi thông tín dụng và sẽ tiếp tục lắng nghe để liên tục có giải pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp.
a
Phó Thống đốc NHNN Đào Minh Tú

Thông tin cập nhật từ NHNN cho thấy, đến ngày 4/10/2019, tín dụng toàn nền kinh tế đạt hơn 7,85 triệu tỷ đồng, tăng 8,95% so với cuối năm 2018. Dư  nợ cho vay riêng vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ chiếm 33,1% tổng dư nợ cho vay nền kinh tế.

Thời gian qua, NHNN theo đuổi chính sách tiền tệ linh hoạt nhằm ổn định vĩ mô, kiểm soat lạm phát, góp phần tăng trưởng kinh tế.
Về lãi suất, NHNN điều hành chính sách lãi suất ổn định, theo xu hướng giảm dần khi điều kiện vĩ mô và các chỉ số cho phép. Ngày 16/9 vừa qua, NHNN đã giảm lãi suất điều hành 0,25%, điều này tạo hiệu ứng để các ngân hàng thương mại có động thải giảm lãi suất cho DN. Thời gian tới, định hướng của NHNN là tiếp tục duy trì ổn định lãi suất và giảm lãi suất điều kiện cho phép để hỗ trợ DN.

Về chính sách tín dụng, NHNN định huonwgs các ngân hàng tiếp tục tập trung cho các lĩnh vực trọng tâm, các lĩnh vực ưu tiên và các dự án trọng điểm quốc gia (trong đó có cả dành vốn cho các dự án như BOT). Tuy vậy, Phó thống đốc cũng cho hay, hện nay phần lớn các ngân hàng đang sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn (có thời điểm tới 50%). Điều đáng mừng là thị trường vốn, đặc biệt thị trường trái phiếu doanh nghiệp đang phát triển. Do đó, thời gian tới, ngành ngân hàng sẽ giảm dần sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn (nay khoảng 40%) để hạn chế rủi ro kỳ hạn. 

Đây là lần thứ 5 NHNN tổ chức Hội nghị kết nối ngân hàng – doanh nghiệp. Thông qua các hội nghị này, NHNN cam kết lắng nghe khó khăn, vướng mắc của DN để kịp thời tháo gỡ, khơi thông tín dụng, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển.  

Về cho vay DN nhỏ và vừa, NHNN khẳng định, đây là một trong  lĩnh vực ưu tiên, tạo động lực tăng trưởng kinh tế, NHNN đã chỉ đạo các TCTD tập trung vốn cho vay, quy định trần lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VND đối với lĩnh vực này thấp hơn từ 1% - 1,5%/năm so với các lĩnh vực thông thường khác.

Đặc biệt, để đồng vốn lan toả rộng hơn, đi sâu vào nền kinh tế, song song với các chương trình tín dụng thương mại, NHNN chỉ đạo các TCTD triển khai các chương trình, chính sách tín dụng đặc thù hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn trong một số ngành/lĩnh vực như: nông nghiệp, nông thôn, công nghiệp hỗ trợ, xuất khẩu, ứng dụng công nghệ cao… Đồng thời yêu cầu các TCTD đơn giản hóa thủ tục vay vốn, đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ ngân hàng điện tử hiện đại, góp phần gia tăng tiện ích và tạo thuận lợi cho khách hàng doanh nghiệp.

Không chỉ vậy, để các ngân hàng chủ động, mạnh dạn cho vay hơn, NHNN đã hoàn thiện khung khổ pháp lý về hoạt động cho vay của TCTD theo hướng tăng cường thẩm quyền quyết định và chịu trách nhiệm của TCTD trong việc cho vay đối với doanh nghiệp, người dân theo quy định của Luật Các TCTD.

Ngoài ra, NHNN phối hợp với các bộ, ngành liên quan hoàn thiện cơ chế hỗ trợ DNNVV, tích cực triển khai Luật Hỗ trợ DNNVV; phối hợp chính quyền địa phương nhận diện những khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp để kịp thời có giải pháp tháo  gỡ

Với những nỗ lực của cả hệ thống ngân hàng, tính đến ngày 4/10/2019 dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế đạt hơn 7,85 triệu tỷ đồng, tăng 8,95% so với cuối năm 2018.  

T.L
1 2 3 4 5
close

Top