...

InfoMoneyTrong quý II/2018, thị trường ngoại hối xuất hiện những biến động mạnh nhất kể từ đầu năm, khi có 2 đợt sóng tăng tỷ giá VND/USD vào nửa cuối tháng 5 và nửa cuối tháng 6, biến động mỗi đợt tăng vào khoảng 100 - 150 đồng/USD.

Tại thị trường liên ngân hàng, kết thúc quý II, tỷ giá VND/USD ở mức 22.965 đồng/USD, tăng 0,8% so với thời điểm đầu tháng 3/2018. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm cũng tăng đáng kể, từ 22.458 đồng/USD vào đầu quý II lên 22.650 đồng/USD, tăng 129 đồng/USD, tương đương mức tăng 0,85%.

Trước diễn biến này của tỷ giá, cộng đồng doanh nghiệp đón nhận những tác động ngược chiều.

Doanh nghiệp xuất khẩu vui mừng

Trao đổi với Báo Đầu tư Chứng khoán, ông Nguyễn Văn Thời, Chủ tịch Công ty cổ phần Đầu tư và Thương mại TNG cho biết, việc tỷ giá tăng trong thời gian qua là rất có lợi đối với các doanh nghiệp có hoạt động xuất khẩu. Cho dù các công ty có khoản vay bằng USD, thì khi bán hàng ra nước ngoài cũng sẽ nhận về đồng tiền này, sau khi bù trừ vẫn được hưởng lợi.

“Ước tính trung bình, nếu tỷ giá tăng 1% thì doanh nghiệp sẽ có thặng dư lợi nhuận từ diễn biến này khoảng 0,1%. Đối với một quốc gia tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào xuất khẩu như Việt Nam, TNG cũng như các doanh nghiệp trong ngành, cùng Hiệp hội Dệt may Việt Nam đã nhiều lần kiến nghị Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) nâng tỷ giá để vừa hỗ trợ xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu, vừa khuyến khích người Việt Nam dùng hàng Việt Nam nhiều hơn”, ông Thời cho biết.

Sở dĩ, tỷ giá theo xu hướng tăng trong thời gian qua, bởi có nhiều yếu tố hỗ trợ khá mạnh. Theo một nghiên cứu của Ban Kinh doanh vốn và tiền tệ BIDV, các yếu tố tác động nhìn chung đã và đang theo hướng đẩy tỷ giá lên cao. Cụ thể, cung - cầu ngoại tệ có xu hướng bớt thuận lợi khi cán cân thương mại trong quý II chỉ đạt thặng dư 100 triệu USD, thấp hơn nhiều so với mức 2,73 tỷ USD trong quý I.

Trong khi đó, nhu cầu ngoại tệ của doanh nghiệp gia tăng mạnh, nhất là trong nửa cuối tháng 6 với hoạt động chuyển lợi nhuận về nước của khối doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và nhu cầu mua ngoại tệ kỳ hạn của các tổ chức nhằm bảo hiểm tỷ giá. Đồng thời, nhà đầu tư nước ngoài đã và đang bán ròng trên thị trường chứng khoán, ước đạt 300 - 400 triệu USD trong quý II.

Chưa kể, chênh lệch tỷ giá trên thị trường tự do - liên ngân hàng mở rộng mạnh, có thời điểm chênh lệch tới 100 - 150 đồng. Một lãnh đạo cao cấp BIDV nêu quan điểm: “Với sự liên thông nhất định, chênh lệch tỷ giá giữa hai thị trường cũng là yếu tố gây áp lực lên tỷ giá”.

Tại thị trường quốc tế, các sức ép lên tỷ giá VND/USD cũng gia tăng. Cụ thể, USD tăng giá mạnh trong quý II (tăng hơn 5%), trong khi nhân dân tệ (CNY) giảm mạnh hơn 5%, nhất là sau thời điểm Fed tăng lãi suất lần thứ 2 trong năm. Diễn biến tăng giá của USD đến từ kỳ vọng Fed sẽ đẩy nhanh hơn nữa tốc độ thắt chặt tiền tệ trong nửa cuối năm 2018, cùng triển vọng kinh tế không mấy tích cực từ khu vực châu Âu.

Trong bối cảnh này, tâm lý thị trường chuyển từ trạng thái ổn định sang lo ngại và thận trọng, nhà đầu tư có xu hướng rút vốn khỏi các thị trường mới nổi, thị trường chứng khoán giảm mạnh, chiến tranh thương mại có nguy cơ leo thang…

Ghi nhận từ thị trường cho thấy, thanh khoản USD của hệ thống liên ngân hàng tiếp tục xu hướng bớt dồi dào hơn trong quý II/2018. Tình trạng này được dự báo sẽ duy trì trong quý III và mặt bằng lãi suất có thể tăng thêm khoảng 10 - 20 điểm phần trăm, lên mức 2,1 - 2,2%/năm kỳ hạn qua đêm - 1 tuần.

Yếu tố tạo áp lực lớn nhất đối với thị trường ngoại hối trong giai đoạn tới đến từ những diễn biến phức tạp của môi trường kinh tế thế giới
Yếu tố tạo áp lực lớn nhất đối với thị trường ngoại hối trong giai đoạn tới đến từ những diễn biến phức tạp của môi trường kinh tế thế giới

Nỗi lo của doanh nghiệp nhập khẩu

Một cuộc khảo sát toàn cầu được thực hiện với 200 giám đốc tài chính, gần 300 chuyên viên quản lý nguồn vốn, một bộ phận lớn các giám đốc tài chính (CFO) của các công ty lớn do HSBC và FT Remark thực hiện cho thấy, hơn một nửa các CFO tin rằng, rủi ro biến động tỷ giá là loại rủi ro mà doanh nghiệp ít có sự chuẩn bị để đối phó nhất. Những quan ngại này phản ánh mức độ biến động ngày càng tăng của các loại tiền tệ trong bối cảnh triển vọng về địa chính trị và kinh tế vĩ mô thiếu ổn định.

Các doanh nghiệp nhập khẩu trong nước, đối tượng chịu ảnh hưởng tiêu cực của biến động tỷ giá, cũng đang có chung nỗi lo này. Chia sẻ với Báo Đầu tư Chứng khoán, ông Vũ Đình Độ, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Nhựa Đồng Nai (DNP) cho hay: “Tỷ giá tăng dẫn đến chi phí đầu vào của các doanh nghiệp trong ngành nhựa đi lên, bởi lượng hàng nhập khẩu chiểm tới 50%, trong khi đầu ra chưa kịp tăng giá, dẫn tới lợi nhuận bị ảnh hưởng. Ước tính tỷ giá tăng khoảng 1% mà sản phẩm chưa kịp tăng giá tương ứng sẽ giảm lợi nhuận khoảng 0,5%. Do vậy, nếu tỷ giá tiếp tục leo dốc, các doanh nghiệp sẽ phải điều chỉnh giá đầu ra cho phù hợp”.

Trong khi đó, lãnh đạo cấp cao của Công ty TNHH Thương mại và sản xuất Thép Việt (Pomina) cho biết, nếu tỷ giá tăng, giá thành của sản phẩm thép sẽ tăng cao tương ứng do phôi thép hoàn toàn là nhập khẩu. Điều này chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Nhìn xa hơn, tỷ giá tăng sẽ ảnh hưởng đến giá cả hàng hóa nói chung của nền kinh tế, có thể dẫn đến lạm phát cao, tạo nên nỗi lo chung của tất cả các doanh nghiệp.

Trong thời gian qua, mặc dù NHNN đã triển khai các giải pháp can thiệp cần thiết, góp phần quan trọng trong việc ổn định thị trường ngoại hối, bao gồm giải pháp truyền thông và bán ngoại tệ, chưa kể, cung - cầu ngoại tệ cơ bản trong quý III/2018 được dự báo có thể tích cực hơn trong quý II, nhưng theo vị lãnh đạo BIDV, vẫn còn những yếu tố hỗ trợ tỷ giá tăng trong thời gian tới mà NHNN không thể can thiệp.

Theo đó, yếu tố tạo áp lực lớn nhất đối với thị trường ngoại hối trong giai đoạn tới đến từ những diễn biến phức tạp của môi trường kinh tế thế giới, đặc biệt là cuộc chiến tranh thương mại được phát động từ Mỹ. Căng thẳng thương mại giữa Mỹ - Trung Quốc hay với một số quốc gia khác như Canada, các thành viên Liên minh châu Âu (EU) có chiều hướng leo thang đang tạo ra ảnh hưởng bất lợi đến nền kinh tế của các quốc gia mới nổi.

Với đặc thù của một nền kinh tế có độ mở lớn, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt gần 200% GDP, cộng với vị trí địa lý là quốc gia láng giềng của Trung Quốc - tâm bão trong cuộc chiến tranh thương mại, Việt Nam chắc chắn sẽ đối mặt với không ít thử thách. Trong đó, tác động ngắn hạn đối với tỷ giá VND/USD có thể đến từ các khía cạnh như tâm lý lo ngại gia tăng, xu hướng leo dốc của USD, xuống dốc của nhân dân tệ trên thị trường quốc tế, hay nhà đầu tư nước ngoài rút vốn khỏi thị trường chứng khoán Việt Nam.

“Trong trung và dài hạn, phạm vi hay mức độ tác động sẽ phụ thuộc vào tình hình của cuộc chiến thương mại mà chúng tôi kỳ vọng sẽ duy trì trạng thái giằng co trong ít nhất một vài tháng tới”, vị lãnh đạo BIDV chia sẻ.

Đồng quan điểm, ông Ngô Đăng Khoa, Giám đốc Khối kinh doanh tiền tệ và thị trường vốn, HSBC Việt Nam cho biết: “Trong dài hạn, các yếu tố cơ bản trên thị trường quốc tế được dự báo vẫn sẽ diễn biến phức tạp.

Để chủ động trong hoạt động quản trị doanh nghiệp, quản trị dòng tiền và kiểm soát rủi ro hiệu quả, các doanh nghiệp cần tích cực thực hiện công tác phòng vệ rủi ro tỷ giá, lãi suất, thông qua việc nâng cao nhận thức về rủi ro thị trường và các công cụ phòng vệ.

Trong bối cảnh này, việc NHNN tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, hỗ trợ ổn định kinh tế vĩ mô, hệ thống ngân hàng luôn đảm bảo nhu cầu ngoại tệ hợp pháp của doanh nghiệp được đáp ứng kịp thời, đầy đủ sẽ hỗ trợ các doanh nghiệp an tâm hoạt động sản xuất - kinh doanh”.

Nhuệ Mẫn (Tinnhanhchungkhoan.vn)
InfoMoneyGiá vàng hôm nay 16/7 giảm trong bối cảnh đồng đô la suy yếu, các kim loại khác ổn định khi lo ngại về chiến tranh thương mại giảm bớt.

Giá vàng hôm nay 16/7: Tiếp tục giảm sâu


Mở cửa sáng nay, giá vàng miếng được Tập Đoàn Vàng bạc đá quý DOJI niêm yết ở mức: 36,89 triệu đồng/lượng (mua vào) và 36,97 triệu đồng/lượng (bán ra), tăng 30 nghìn đồng so với ngày hôm qua ở chiều mua vào.

Tại Công ty SJC, giá vàng niêm yết chiều mua vào là 36,83 triệu đồng/lượng, ở chiều bán ra có mức giá là 37,03 triệu đồng/lượng. Tại thị trường TP.HCM, chiều bán ra niêm yết ở mức giá 37,01 triệu đồng/lượng.

Hợp đồng vàng giao tháng 8 trên sàn Comex của New York Mercantile Exchange giảm 0,43%, xuống 1.241,30 USD/ounce.

Trong tuần vừa qua, giá vàng đã giảm dần, tính chung cả tuần giảm 1,29%, từ mức 1.257 USD/ounce phiên đầu tuần và kết tuần ở mức 1.240 USD/ounce. Đây cũng là mức thấp nhất kể từ đầu năm 2018 đến nay. Phiên đầu năm 2018, giá vàng thế giới ở mức 1.318 USD.

Đà giảm điểm ở các kim loại phần nào bị hạn chế do lo ngại về thương mại - chiến tranh giảm bớt. Dữ liệu cho thấy thặng dư của Trung Quốc với Mỹ đã tăng lên kỷ lục 29 tỷ USD.

Sự gia tăng mạnh mẽ trong xuất khẩu, làm tăng đáng kể thặng dư, được cho là không bền vững. Các nhà xuất khẩu Trung Quốc đổ xô chuyến hàng trước khi thuế quan của Mỹ có hiệu lực trong tuần đầu tiên của tháng Bảy.

Giai đoạn hiện nay, tương quan giữa giá vàng và nhân dân tệ biểu hiện rõ nét hơn cả giữa vàng và USD. Nếu mối tương quan này tiếp tục được duy trì, giá vàng trên sàn Comex tại Mỹ sẽ hướng tới giảm về mức 1.230 USD/ounce khi đồng nhân dân tệ tiếp cận mức 6,7 CNY/USD.

Neil Mellor, nhà chiến lược tiền tệ cao cấp tại BNY Mellon, cũng dự báo giá vàng giảm trong ngắn hạn. Theo Neil Mellor, giá vàng sẽ đi ngược chiều với USD, nếu USD tăng thì vàng sẽ giảm. Về mặt kỹ thuật thì thấy, không có dấu hiệu giá USD sẽ giảm trong tuần.

Giá vàng trong nước chốt phiên giao dịch ngày hôm qua, Tập Đoàn Vàng bạc đá quý DOJI niêm yết ở mức: 36,86 triệu đồng/lượng (mua vào) và 36,96 triệu đồng/lượng (bán ra).

Tại Công ty SJC, giá vàng niêm yết chiều mua vào là 36,83 triệu đồng/lượng, ở chiều bán ra có mức giá là 37,02 triệu đồng/lượng. Tại thị trường TP.HCM, chiều bán ra niêm yết ở mức giá 37,00 triệu đồng/lượng.

Nhìn lại tuần qua, kim loại quý diễn biến theo chiều tăng dần kể từ phiên phiên đầu tuần và giảm nhẹ về phiên cuối tuần. Giá vàng ghi nhận mức mua bán thấp nhất tại 36,78-36,88 triệu đồng/lượng, trong khi mức cao nhất niêm yết tại 36,88-36,98 triệu đồng/lượng. Như vậy, tính trung bình trong tuần qua mỗi lượng vàng điều chỉnh tăng giảm khoảng 100 nghìn đồng.

 

Nam Hải (vietnamnet)
InfoMoneyKhông ít ngân hàng hồ hởi báo lợi nhuận tăng vọt trong nửa đầu năm nay, trong đó có hàng ngàn tỷ đồng lợi nhuận từ dịch vụ.

Kế hoạch tăng phí bị “tuýt còi”

Theo kế hoạch, ngày 15/7, cả 3 ông lớn là Vietcombank (VCB), VietinBank, BIDV bắt đầu áp dụng biểu phí dịch vụ thẻ mới, trong đó tăng phí rút tiền ATM nội mạng lên 1.650 đồng/lần, tăng 500 đồng/lần so với trước đó.

Tuy nhiên, kế hoạch này bị hủy bỏ vì ngày 10/7, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) yêu cầu các ngân hàng thương mại chưa được phép tăng phí rút tiền nội mạng, vì các ngân hàng cần có thời gian để tập hợp số liệu, công khai thông tin về lộ trình tăng phí.

.
.

Theo quy định hiện hành, các ngân hàng được phép điều chỉnh phí dịch vụ thẻ, trong đó có phí rút tiền nội mạng theo khung quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN). Theo đó, phí rút tiền nội mạng cao nhất theo khung quy định là 3.000 đồng/lần rút tiền (chưa bao gồm thuế VAT). Hiện tại, các ngân hàng áp dụng phổ biến ở mức 1.000 đồng/lượt, thêm thuế VAT là 1.100 đồng/lượt. Trong bối cảnh đầu tư cho hạ tầng dịch vụ thẻ khá lớn, các ngân hàng đã đề xuất được tăng phí dịch vụ thẻ theo lộ trình và trong khung quy định. Quan điểm của NHNN là các ngân hàng phải minh bạch thông tin và tạo được sự đồng thuận của khách hàng trước khi tăng phí.

Theo số liệu của Hội Thẻ ngân hàng Việt Nam, hiện cả nước có khoảng 77 triệu thẻ các loại được ngân hàng phát hành, trong đó có khoảng 70 triệu thẻ ATM. Các ngân hàng thương mại nhà nước chiếm tỷ trọng khá lớn về phát hành thẻ ATM, nên việc điều chỉnh phí dịch vụ chắc chắn sẽ tác động đến thị trường.

Thu lãi ngàn tỷ đồng

Việc tăng phí được lãnh đạo các ngân hàng giải thích rằng, ngân hàng phải duy trì số tiền nạp trong các ATM khá lớn, trong khi nhiều chủ thẻ chỉ dùng ATM để rút tiền mặt, nên không đủ bù đắp chi phí cho hoạt động này.

Trong khi đó, kết quả kinh doanh được các nhà băng công bố cho thấy, ngân hàng thu hàng ngàn tỷ đồng từ phí dịch vụ như thẻ tín dụng, dịch vụ trung gian thanh toán giao dịch bất động sản, thanh toán quốc tế và các khoản phí liên quan đến ATM, Internet Banking, Mobile Banking…

Các ngân hàng thu hàng ngàn tỷ đồng từ phí dịch vụ như thẻ tín dụng, dịch vụ trung gian thanh toán giao dịch bất động sản, thanh toán quốc tế...

Theo Báo cáo tài chính quý I/2018 của VCB, thu từ hoạt động dịch vụ đạt gần 1.580 tỷ đồng, tăng 30% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả 6 tháng đầu năm 2018, lãi trước thuế của VCB đạt hơn 7.700 tỷ đồng, tăng 52,7% so với cùng kỳ năm trước và bằng 55,2% kế hoạch cả năm.

BIDV, VietinBank, Sacombank, Techcombank…, thậm chí là OCB, TPBank, VIB cũng báo lãi lớn trong 6 tháng đầu năm. Doanh thu từ hoạt động dịch vụ của Sacombank trong quý đầu năm 2018 đạt 752 tỷ đồng, tăng hơn 30% so với cùng kỳ năm 2017. Năm 2017, Sacombank lãi tới 2.623 tỷ đồng từ hoạt động này. Đó cũng chính là lý do để Sacombank không ngừng đẩy mạnh hoạt động dịch vụ, trong đó có mảng thẻ.

OCB lãi 1.302 tỷ đồng trước thuế trong 6 tháng đầu năm nay, tăng 163,5% so với cùng kỳ năm ngoái. Ông Nguyễn Đình Tùng, Tổng giám đốc OCB cho biết, có được kết quả tăng trưởng lợi nhuận ấn tượng 6 tháng đầu năm nay là nhờ việc tăng thu từ tín dụng, đóng góp tích cực của tăng thu nhập từ thu ngoài lãi, thu từ dịch vụ và thu nhập từ hoạt động bảo hiểm. Với kết quả đạt được trong 6 tháng đầu năm, OCB tự tin sẽ vượt mức kế hoạch lợi nhuận 2.000 tỷ đồng đề ra trong năm 2018.

VIB lãi trước thuế 1.151 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm, gấp 3 lần cùng kỳ năm 2017. Trong đó, một phần đến từ mảng dịch vụ và bán lẻ. VIB dự báo lợi nhuận trước thuế cả năm 2018 có thể vượt 2.500 tỷ đồng, cao hơn 25% so với chỉ tiêu được Đại hội đồng cổ đông giao từ đầu năm.

TS. Bùi Quang Tín (Trường đại học Ngân hàng TP.HCM) cho rằng, các ngân hàng lập luận phải tăng phí để bù đắp chi phí, giúp ngân hàng duy trì đầu tư hệ thống ATM…, nhưng thực tế, ngân hàng đang được hưởng “lợi đơn, lợi kép”. Vì vậy, thay vì tăng đại trà các loại phí như phí rút tiền nội mạng, phí Internet Banking…, các ngân hàng nên cung cấp gói sản phẩm, dịch vụ, giải pháp tài chính để từ đó thu phí thì hợp lý hơn.

Vân Linh
1 2 3 4 5
close

Top